Thứ Năm, ngày 03 tháng 1 năm 2013

Dòng Kagyu

Dòng Kagyu
Sau khi lây lan ban đầu giảng dạy của Đức Phật ở Tây Tạng và đàn áp tiếp theo của mình, thế kỷ thứ 11 đến như một giai đoạn của sự tiến bộ và đổi mới cho Phật pháp. Tây Tạng đã trải qua những khó khăn lớn trong việc đi học với các giáo viên ở Ấn Độ sau đó viện nổi tiếng như Nalanda, và Vikramashila. Thạc sĩ từ Ấn Độ như Atisha đến giảng dạy ở Tây Tạng.
Nguồn gốc của truyền thống Kagyu là Marpa dịch lớn (1012-1097), người đã có nhiều chuyến thăm tới Ấn Độ và Nepal, và nghiên cứu thuộc đại thành tựu giả của Ấn Độ như Naropa và Matripa.  






1 - Kim Cương Trì-e.jpg
Đức Phật Kim Cương Trì hoặc Dorje Chang ở Tây Tạng, Đức Phật nguyên thủy, Đức Phật Pháp Thân.Vajradhara đại diện cho bản chất của sự chứng ngộ của Đức Phật lịch sử của sự giác ngộ khôn ngoan.
Pháp thân Đức Phật là nguồn gốc của tất cả các biểu hiện của sự giác ngộ. Kim Cương Trì là trung tâm của dòng truyền thừa Kagyu vì Tilopa nhận được những lời dạy Tantrayana trực tiếp từ Pháp Thân Vajradhara. Như vậy, dòng truyền thừa Kagyu được bắt nguồn từ chính bản chất của Phật.
Sự nhận thức về bản chất cuối cùng là lần lượt truyền trong Chuỗi Hạt Vàng của Tilopa.
2 - Tilopa-e.jpg

Tilopa (988-1069) đã được sinh ra là một bà la môn ở Ấn Độ, nhưng ông đã từ bỏ thế giới trong khi vẫn còn khá trẻ để trở thành một nhà tu khổ hạnh. Ở giai đoạn sau, trong khi thiền định ẩn dật trong một túp lều cỏ nhỏ, ông đến mặt-đối-mặt với Đức Phật Pháp Thân Vajradhara và nhận giáo pháp trực tiếp từ Ngài. Giáo phái Kagyu giữ giáo lý Mahamudra đã được nhận trực tiếp từ Vajradhara qua Tilopa.
Ông cho chúng tôi một thẩm quyền và nổi tiếng nhất Đại thành tựu giả Ấn Độ và thạc sĩ của Đại Thủ Ấn và Tantra.
3 - Naropa-e.jpg

Naropa (1016-1100) tự mình đã từ bỏ vị trí uy tín của ông là người đứng đầu của Đại học Nalanda tuyệt vời để chi tiêu 12 năm gian khổ đào tạo với Ấn Độ Đại Thành tựu giả Tilopa tuyệt vời.
4 - Marpa-e.jpg

Marpa Lotsawa (1012-1097) , đôi khi được gọi đầy đủ như Lhodak Marpa Chokyi Lodro hoặc phổ biến là Marpa Translator là một Phật giáo Tây Tạng giáo viên có truyền của Phật Pháp hoàn toàn đến Tây Tạng từ Ấn Độ, bao gồm cả các giáo lý và dòng truyền thừa của Kim Cương thừa và Đại Ấn. Do đó, ông là nguồn của trường phái Kagyu.
Sau chuyến thăm thứ hai của ông tới Ấn Độ, Milarepa trở thành đệ tử của ngài, người thừa hưởng dòng dõi của ông đầy đủ.
5 - Milarepa-e.jpg

Milarepa (1040-1124) các hành giả nổi tiếng, nhà thơ và thánh, là một trong những bậc thầy cao nhất thực hiện trong lịch sử của Phật giáo Tây Tạng. Cuộc sống của ông thiền định đã được lâu dài của một nguồn cảm hứng cho các học viên Phật giáo trong nhiều thế kỷ. Câu chuyện về cuộc đời và những bài hát của Milarepa - trăm ngàn bài hát 'là kinh điển trong văn học tinh thần của thế giới. Ông là yogi vĩ đại nhất của Tây Tạng.
6 - Gampopa-e.jpg

Gampopa (1079-1153) , heartson giống như mặt trời của Milarepa, đã được tiên tri của Đức Phật trong kinh điển nhiều như propagator Pháp cuối cùng trong Miền Đất Tuyết. Ông là một bác sĩ và cao học.Ông đã tập hợp truyền thống Kadam của Atisha và hướng dẫn bằng miệng của truyền thống Mahamudra của Milarepa. Ông là tác giả nhiều công trình học thuật, bao gồm Jewel Ornament 'Giải phóng' nổi tiếng. Từ anh ta rằng tất cả các trường Kagyu được truy tìm. Các thực hành chính bao gồm,   Đại Ấn, Sáu Yoga của Naropa, Nội nhiệt Tummo Huyễn thân, Luminosity, Bardo, Phowa - chuyển di tâm thức, Lojong luyện tâm để nuôi dưỡng lòng nhân ái.
7 - Phagmo Drupa-e.jpg

Phagmo Drupa (1110-1170) , một đệ tử của Gampopa thành lập tu viện Kagyupa đầu tiên ở miền Nam Tây Tạng và truyền bá giáo lý của Gampopa như cháy rừng. Kể từ đó Kagyupa Trường đã trở thành các học viên lớn nhất trong lịch sử của Phật giáo Tây Tạng để sản xuất số lượng cao nhất của Đại thành tựu giả - Chúng sanh giác ngộ.
8 - Linchen Repa-e.jpg

Lingchen Repa (1128-1188) , hoặc Lingre Pema Dorje, là một trong những Phagmo Drupa 8 môn đệ chính, còn được gọi là Saraha của Tây Tạng, là một hiện thực không thể so sánh tổng thể.
Ông là nguồn của dòng truyền thừa Lingre Kagyu của chúng tôi, được trích dẫn dưới tên của mình,Ling chen Re pa. Sau đó, Lingre Kagyu phát triển được gọi là Drukpa Kagyu.

9 - Tsangpa Gyare - e.jpg

Tsangpa Gyare Yeshe Dorje - Jana Kim Cương (1161-1211) là đệ tử duy nhất của Lingchen Repa và thành lập dòng truyền thừa Drukpa Kagyu.Ông có tầm nhìn của chín con rồng ầm ầm trên bầu trời khi anh đến các trang web tương lai của tu viện chính của ông, lấy cảm hứng từ tên của dòng truyền thừa này - "Drukpa Kagyu". Sau đó, ông thành lập dòng truyền thừa tâm tại Ralung. Nó lan truyền rộng rãi và dòng truyền thừa sau đó được chia thành trên, ngành thấp hơn, và trung bình. Tsangpa Gyare được biết là đã nhận giáo pháp trực tiếp từ Đức Phật. Môn đồ của Ngài bao gồm, Godtsangpa Gonpo Dorje, Lorepa Pháp Wangchuk, Sangye Onchen Repa. 
10 - Pema Karpo - e.jpg
Kể từ đó, 15 thạc sĩ khác được nắm giữ dòng truyền thừa cho đến khi Pema Karpo (1527-1592) đã trở thành chủ sở hữu của dòng truyền thừa của chúng tôi. Rất kinh nghiệm gốc Pema Karpo Shabdrung Druk Choekyi Gonpo (1 Drukpa Choegon Rinpoche) và Ngawang Choekyi Gyalpo. Pema Karpo đóng góp 24 khối lượng tác phẩm thu thập được về văn học Phật giáo, lịch sử, logic và chiêm tinh học. Ông đã xây dựng tu viện Druk Sang-Ngak Choeling (nơi ở Pháp Mantrayana) ở miền nam Tây Tạng đã trở thành tu viện chính của người Drukpas Đức Pháp Vương Gyalwang. Pema Karpo và đệ tử chính của Shabdrung Choekyi Gonpo là Lhatsewa Ngawang Zangpo (1547-1614) - 1 Drukpa Yongzin Rinpoche. Ông mang lại một sự phục hưng lớn trong truyền thống Drukpa Kagyu. Dưới trướng của ông, một số lượng lớn của đại thành tựu giả và Học giả được sản xuất. Bốn mươi lăm trong số họ đã được biết là đã có được trạng thái thiền định, nhà nước thực hiện cao nhất trong việc thực hành Mahamudra theo lời Vajrayogini. Mỗi người trong số họ đã thành lập tu viện riêng của họ, thực tiễn rút lui và các dòng truyền thừa của riêng mình. Như vậy người ta nói rằng các truyền thống Drukpa Kagyu lây lan một lần nữa như tia mặt trời xa và rộng. Trong số Lhatsewa Ngawang Zangpo học sinh bao gồm 5 của Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa Pagsam Wangpo, Drukpa Choegon Dudjom 2 Dorje, Khamtrul Ngawang Tenphal 1, Taktsang Repa 1, 1 Dorzong Konchok Gyalpo, Pandita Sangye Dorjee, Drubchok Mipham Lodoe, Gampopa Zangpo Dorje, và Rinzin Gyatson Nyingpo.


Lưu ý cho Reader:
1. Giải thích ngắn gọn về các tên được sử dụng để giải quyết Drukpa Choegon Rinpoche:
Shabdrung Druk Choe kyi Gòn po hoặc Kyabje Drukpa Choegon Rinpoche
* Shabdrung (cũng Zhabdrung; Tib: "trước khi bàn chân của"), là một tiêu đề được sử dụng khi đề cập đến hoặc giải quyết những vị Lạt Ma ở Tây Tạng, đặc biệt là những người đã tổ chức một dòng dõi di truyền (dòng dõi chủ).
2. Một số độc giả có thể bị nhầm lẫn bởi thuật ngữ "Kagyu" vs "Kargyu" sử dụng trong trang web này. Dưới đây là những lời giải thích ngắn về biểu lộ thực tế của 2 điều khoản này. Tuy nhiên, ngày nay Drukpa "Kargyu và Drukpa" Kagyu 'được sử dụng thay thế cho nhau trong các phương tiện truyền thông tiếng Anh.
Kagyu -  có thể được dịch là "Truyền thừa của hướng dẫn bằng miệng". Âm tiết đầu tiên "Ka" đề cập đến thánh thư của Đức Phật và các hướng dẫn bằng miệng của guru. "Ka" có ý nghĩa cả về ý nghĩa giác ngộ chuyển thông qua các hướng dẫn của các bậc thầy thực hiện, cũng như sức mạnh và phước lành từ cái nhìn sâu sắc thực; và "gyu" chỉ đơn giản có nghĩa là dòng dõi hay truyền thống.
Kargyu - Kar (màu trắng) Gyu (dòng) của Marpa, Milarepa, và theo họ, nhiều trong số đó mặc áo choàng trắng. Kewang Sangye Dorje, một trong những đệ tử quan trọng nhất của Pema Karpo, đề nghị tên này cho dòng truyền thừa Drukpa Kargyu của chúng tôi.

Thứ Bảy, ngày 29 tháng 12 năm 2012


                        THẦN CHÚ LIÊN HOA SINH ĐẠI SƯ

Nơi miền Tây bắc Ô-trượng-na
Trong một đoá hoa sen
Ngài đã đạt Vô thượng bồ-đề
Ngài là Liên Hoa Sinh
Với nhiều nữ thần hộ vệ xung quanh
Con nguyện theo Ngài
Hãy đến đây độ trì cho đệ tử.




        OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG 

Thần chú Đạo Sư Kim Cương (Vajra Guru Mantra) là thần chú được kết hợp với Guru Rinpoche - cũng được gọi là Đức Padmasambhava (Liên Hoa Sanh). Đây là một bản phác dịch của một bản văn kho tàng (terma) giải thích thần chú Đạo Sư Kim Cương. Lúc ban đầu nó được khám phá trong thời gian Đức Padmasambhava đang ở Tây Tạng và về sau được Karma Lingpa (thế kỷ 14) khám phá lại. Vị này lấy nó từ nơi được chôn dấu và sao chép nó trên giấy bằng vàng. Nó được gọi một cách đơn giản là “Âm tiết theo sự Chú giải Âm tiết Giải thích những Lợi ích và Thuận lợi của Thần chú Đạo Sư Kim Cương.” Nó bắt đầu với một lời khẩn cầu và sau đó trở thành một cuộc đối thoại giữa Yeshe Tsogyal - vị phối ngẫu tâm linh của Đức Padmasambhava – và chính Đức Padmasambhava. 
Và như thế, Yeshe Tsogyal bắt đầu: 

“Con, Yeshe Tsogyal, sau khi cúng dường Ngài mạn đà la trong và ngoài trên một phạm vi rộng lớn, con có khẩn cầu tiếp theo. Ôi Pema Jungne, Đạo Sư vĩ đại, Ngài đã cực kỳ tốt lành đối với chúng con, dân chúng Tây Tạng, khi để lại cho chúng con một di sản sẽ mang lại lợi lạc cho chúng con bây giờ và trong những đời sau. Thiện tâm của Ngài vĩ đại tới nỗi chúng con chưa từng kinh nghiệm bất kỳ điều gì như thế trước đây. Đặc biệt là Ngài đã ban cho con những giáo lý cốt tuỷ cho việc thực hành của con khiến cho giờ đây, mặc dù con chỉ là một kẻ tầm thường, nhưng con không nghi ngờ gì về việc con sẽ đạt được giác ngộ. 

Trong tương lai, những khoảng thời gian chú tâm của chúng sinh sẽ rất ngắn ngủi và rất nhiều sự việc sẽ phủ chụp và chiếm cứ tâm thức họ. Tính khí họ sẽ thô tháo và khó điều phục. Họ sẽ phát triển nhiều tà kiến đối với Thánh Pháp. Đặc biệt, sẽ tới lúc nhân loại sẽ truyền bá giáo lý Mật thừa thuộc những cấp độ tantra vô song. Vào lúc này, tất cả chúng sinh sẽ hết sức đau khổ bởi bệnh tật, nạn đói và chiến tranh. Do sự lan rộng của ba tai ương này mà cụ thể là Trung Hoa, Tây Tạng và Mông Cổ sẽ phải trải qua cùng một loại hỗn loạn như một tổ kiến khi bị huỷ diệt, vàsẽ tới lúc dân chúng Tây Tạng phải chịu đau khổ ghê gớm. Mặc dù Ngài đã từng nói rất chi tiết về nhiều phương tiện thiện xảo để cứu thoát những gì có thể ra khỏi tình huống đó, chúng sinh trong tương lai sẽ không có thì giờ để thực hành. Mặc dù họ có thể có chút khuynh hướng nhợt nhạt để thực hành, nhưng họ sẽ gặp nhiều trở ngại to lớn. Chúng sinh sẽ trải nghiệm rất nhiều sự bất hoà. Họ sẽ không thể hoà thuận hay đạt được bất kỳ loại hoà hợp nào, và theo sau điều này, hành vi của họ sẽ trở nên rất bất tịnh. Những thời đại tồi tệ như thế này sẽ rất khó tránh khỏi. Trong tình thế này, chúng sinh trong tương lai nương tựa duy nhất nơi Thần chú Đạo Sư Kim Cương như thực hành của họ sẽ có được những lợi ích và thuận lợi nào? Con xin Ngài thuyết giảng về vấn đề này vì lợi ích của những cá nhân trong tương lai, là những người không thể nhận thức điều này và vì thế cần phải giảng cho họ rõ.” 

Khi đó Đạo Sư vĩ đại Pema Jungne trả lời: 

“Ôi người phụ nữ trung thành, những gì con nói thì hết sưc chân thực. Trong tương lai, những thời đại như thế sẽ xảy tới với chúng sinh và trong một sự tri giác nhất thời lẫn phạm vi dài hạn, những lợi ích của Thần chú Kim Cương Đạo Sư có thể được cảm nhận một cách rõ ràng. Bởi những giáo huấn tâm linh và những phương pháp thực hành mà ta ban tặng thì vô biên nên ta đã cất dấu một số lượng rất lớn những giáo lý kho tàng (terma) trong nước, đá, không gian và v.v.. Trong những thời đại xấu ác đó, ngay cả những cá nhân với nghiệp may mắn cũng sẽ khó gặp được những giáo lý này. Sẽ khó hội đủ những hoàn cảnh cần thiết để khám phá được những giáo lý này. Đây là một dấu hiệu cho thấy công đức tập thể của chúng sinh đang bị suy hoại. 
Tuy nhiên, vào những thời đại như thế, nếu thần chú-cốt tuỷ này, thần chú Kim Cương Đạo Sư, được trì tụng càng nhiều càng tốt, một trăm lần, một ngàn lần, mười ngàn lần, một trăm ngàn lần, một triệu, mười triệu, một trăm triệu lần và v..v.., nếu nó được trì tụng ở những thánh địa, trong những đền chùa, cạnh những con sông lớn, trong những miền nơi có rất nhiều chư thiên và quỷ ma, nếu nó được trì tụng ở những nơi chốn này bởi những hành giả Kim Cương thừa có samaya (giới nguyện) trong sạch, bởi những người xuất gia giữ nguyện thật thanh tịnh, bởi những người nam và nữ có đức tin nơi giáo lý, nếu họ phát khởi Bồ Đề tâm ở một mức độ rộng lớn và trì tụng thần chú này, thì những lợi ích, thuận lợi và năng lực của thực hành như thế thì thật sự không thể nghĩ bàn. Thần chú này sẽ ngăn ngừa mọi thế lực tiêu cực của bệnh tật, nạn đói, sự náo động, những mùa thu hoạch kém và tất cả những điềm triệu và dấu hiệu xấu trong mọi quốc gia trên thế giới, chẳng hạn như mưa sẽ đổ xuống đúng lúc để luôn luôn cung cấp đủ nước cho nông nghiệp và đời sống của người và thú vật, và mọi miền sẽ được thịnh vượng và hưởng những điều kiện tốt lành. 

Trong đời này, những đời sau, và trong trạng thái trung ấm giữa sự chết và tái sinh, những cá nhân thực hành theo cách này sẽ liên tục gặp lại ta. Người xuất sắc nhất trong những cá nhân này sẽ thực sự gặp ta trong ý thức tỉnh giác của họ. Những người thuộc cấp độ trung bình sẽ gặp ta trong những linh kiến thiền định, và ít nhất, họ sẽ luôn gặp ta trong những giấc mộng. Dần dần khi hoàn thiện những con đường và những cấp độ khác nhau của sự thực hành, họ sẽ đạt được hàng ngũ của những bậc nam và nữ trì giữ giác tánh nội tại (Trì Minh Vương) trong cõi tịnh độ của ta tại đại lục Ngayab. Chớ nghi ngờ điều đó. 

Nếu thần chú này được tụng một trăm lần một ngày, chỉ đơn thuần một trăm lần một ngày mà không gián đoạn, hành giả sẽ trở nên thu hút người khác và sẽ có thực phẩm, của cải và những thứ cần thiết của cuộc sống mà không cần nỗ lực. 

Nếu hành giả tụng thần chú này một ngàn hay mười ngàn lần mỗi ngày, hành giả sẽ thực sự có thể trổi vượt người khác bằng sự chói sáng của mình, trở nên rất uy tín và có sức thuyết phục trong việc gây một ảnh hưởng tích cực trên những người khác, và hành giả sẽ có được sức mạnh của những ân phước và năng lực tâm linh mà không bị ngăn trở. 

Nếu hành giả trì tụng một trăm ngàn hay một triệu lần trên cơ sở đều đặn, hành giả sẽ có thể có khả năng thực hiện vô lượng lợi lạc vĩ đại cho chúng sinh, hoàn toàn như ước nguyện của hành giả. 

Nếu hành giả trì tụng thần chú ba hay bảy triệu lần, hành giả sẽ không bao giờ xa rời chư Phật ba thời và sẽ trở nên bất khả phân với ta. Tất cả các vị trời và quỷ ma sẽ chú tâm tới hành giả và dâng cho hành giả những lời tán thán của họ. 

Trong trường hợp tốt nhất, hành giả sẽ đạt được thân cầu vồng, cấp độ cuối cùng của sự thành tựu trong đời này. Ở cấp độ trung bình, vào lúc chết, tịnh quang mẹ và con sẽ gặp gỡ nhau. Ở cấp độ thấp nhất, hành giả sẽ nhìn thấy mặt ta trong trạng thái bardo và mọi sự xuất hiện trong bardo sẽ được giải thoát trong nền tảng của riêng chúng chẳng hạn như những hành giả này sẽ được tái sinh trong đại lục Ngayab và từ vị trí thuận lợi đó, có thể thành tựu vô số lợi lạc cho chúng sinh. Đức Guru đã trả lời Yeshe Tsogyal như thế.” 

Bà đáp lại: 

“Ôi Đạo sư vĩ đại, Ngài đã hết sức tốt lành khi tuyên thuyết về vô lượng lợi ích và thuận lợi to lớn này của năng lực tâm linh của thần chú này. Tuy nhiên đối với lợi ích của chúng sinh trong tương lai, một sự giải thích chi tiết vể Thần chú Kim Cưong Đạo Sư sẽ có lợi ích lớn lao, và vì thế con khẩn cầu Ngài nói vắn tắt về những âm tiết (chữ) khác nhau của thần chú này.” 

Đạo sư vĩ đại trả lời về điều đó như sau: 

“Ôi con gái của gia đình tốt lành, thần chú Kim Cương Đạo Sư không chỉ là thần chú cốt tuỷ duy nhất của ta, nó là tinh yếu hay sinh lực của tất cả các Bổn Tôn của bốn cấp tantra, của tất cả chín thừa, và của tất cả 84.000 pháp môn . Cốt tuỷ của tất cả chư Phật trong ba thời, của tất cả những guru, yidam (Bổn Tôn), những daka và dakini, những Hộ Pháp v.v.. cốt tuỷ của tất cả những vị này được chứa đựng và đầy đủ trong thần chú này. Con có thể hỏi cốt tuỷ này ra sao. Đâu là lý do để tất cả những điều này được đầy đủ trong thần chú này. Hãy đọc đi đọc lại nó. Hãy viết nó ra vì lợi ích của người khác, và giảng dạy hay biểu thị nó cho chúng sinh trong tương lai. 

OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG 
OM AH HUNG là tinh tuý siêu phàm của những nguyên lý của thân, khẩu và ý giác ngộ 
VAJRA là tinh tuý siêu phàm của Bất Hoại (Kim Cương) bộ 
GURU là tinh tuý siêu phàm của Bảo Sanh bộ 
PEMA là tinh tuý siêu phàm của Liên Hoa bộ 
SIDDHI là tinh tuý siêu phàm của Nghiệp bộ 
HUNG là tinh tuý siêu phàm của Phật bộ. 

OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG 
OM là sự tráng lệ và giàu có toàn hảo của Báo Thân, thân hiển lộ của sự tráng lệ 
AH là sự viên mãn bất biến tuyệt đối của Pháp Thân, thân hiển lộ của thực tại tuyệt đối 
HUNG làm toàn thiện sự hiện diện của Guru Padmasambhava như Hoá Thân, thân hiển lộ của sự hoá hiện 
VAJRA làm toàn thiện tất cả những Bổn Tôn Heruka của các mạn đà la 
GURU ám chỉ cội gốc và những guru truyền thừa và những bậc trì giữ giác tánh nội tại (Trì Minh Vương) 
PEMA làm toàn thiện tập hội các daka và dakini 
SIDDHI là sinh lực của mọi Bổn Tôn tài bảo và những vị bảo vệ kho tàng giáo lý 
HUNG là sinh lực của các Hộ Pháp, những Bổn Tôn bảo hộ. 

OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG 
OM AH HUNG là sinh lực của ba cấp bậc tantra 
VAJRA là sinh lực của giới luật tu viện và Kinh thừa của giáo lý 
GURU là sinh lực của Luận và kriya (hành động) yoga, cấp bậc thứ nhất của tantra 
PEMA là sinh lực của charya (hành vi, hạnh kiểm) tantra, cấp bậc thứ hai của tantra, và yoga (hợp nhất) tantra, cấp bậc thứ ba của tantra 
SIDDHI là sinh lực của những cấp bậc giáo lý mahayoga và anuyoga 
HUNG là sinh lực của ati yoga, Đại Viên mãn Tự nhiên (Dzogchen). 

OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG 
OM AH HUNG tịnh hoá những che chướng phát sinh từ ba độc trong tâm – tham, sân, và si 
VAJRA tịnh hoá những che chướng bắt nguồn từ sự sân hận 
GURU tịnh hoá những che chướng bắt nguồn từ sự kiêu ngạo 
PEMA tịnh hoá những che chướng bắt nguồn từ sự khát khao và tham muốn 
SIDDHI tịnh hoá những che chướng bắt nguồn từ sự thèm muốn và ganh tị 
HUNG là một phương cách chung tịnh hoá những che chướng bắt nguồn từ tất cả những đau khổ thuộc cảm xúc. 

OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG 
Nhờ OM AH HUNG hành giả đạt được ba Thân (kaya) 
Nhờ VAJRA hành giả chứng ngộ giác tánh nguyên sơ như-gương (Đại viên cảnh trí) 
Nhờ GURU hành giả chứng ngộ Bình đẳng tánh trí 
Nhờ PEMA hành giả chứng ngộ Diệu quan sát trí 
Nhờ SIDDHI hành giả chứng ngộ Thành sở tác trí 
Nhờ HUNG hành giả chứng ngộ Pháp giới thể tánh trí. 

OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG 
Nhờ OM AH HUNG những vị trời, quỷ ma và loài người được điều phục 
Nhờ VAJRA hành giả có quyền năng đối với những thế lực ác ý của những vị trời và quỷ ma nào đó 
Nhờ GURU hành giả kiểm soát được những thế lực ác ý của Thần Chết và những quỷ ma ăn thịt người 
Nhờ PEMA hành giả kiểm soát được những ảnh hưởng xấu của yếu tố nước và gió (thủy đại và phong đại) 
Nhờ SIDDHI hành giả kiểm soát được những ảnh hưởng xấu của các thế lực phi-nhân và tinh linh mang lại họa hại và sử dụng sự khống chế tiêu cực sinh mạng của hành giả 
Nhờ HUNG hành giả kiểm soát được những ảnh hưởng xấu của các hành tinh và những tinh linh đất. 

OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG 
OM AH HUNG thành tựu sáu đức hạnh tâm linh 
VAJRA thành tựu việc làm hoạt động làm an bình (tức tai) 
GURU thành tựu hoạt động làm giàu có (nhiêu ích) 
PEMA thành tựu hoạt động lôi cuốn (kính ái) 
SIDDHI thành tựu hoạt động giác ngộ nói chung 
HUNG thành tựu hoạt động giác ngộ phẫn nộ (hàng phục). 

OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG 
OM AH HUNG ngăn ngừa mọi sự nguyền rủa và tai họa 
VAJRA ngăn ngừa những hậu quả tiêu cực của việc làm gãy bể samaya với những Bổn Tôn của giác tánh nguyên sơ 
GURU ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực của tám loại trời và quỷ ma trong luân hồi sinh tử 
PEMA ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực của những vị trời thế tục và quỷ ma 
SIDDHI ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực của các vị rồng và tinh linh đất 
HUNG ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực của các vị trời, quỷ ma, con người, những vị trời trong luân hồi sinh tử. 

OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG 
OM AH HUNG đánh bại đội quân của năm độc trong tâm. 
VAJRA đánh bại sự sân hận. 
PEMA đánh bại sự khát khao-tham muốn. 
SIDDHI đánh bại sự thèm muốn và ganh tị. 
HUNG đánh bại đội quân của các vị trời, quỷ ma và con người. 

OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG 
OM AH HUNG đem lại những thành tựu tâm linh hay các siddhi. 
VAJRA đem lại siddhi (thành tựu) của những Bổn Tôn an bình và phẫn nộ. 
GURU đem lại siddhi của những vị trì giữ giác tánh (Trì Minh Vương) và các guru truyền thừa. 
PEMA đem lại siddhi của những daka, dakini và những Hộ Pháp. 
SIDDHI đem lại những siddhi thông thường và siêu việt. 
HUNG đem lại siddhi của việc hoàn thành bất kỳ điều gì hành giả mong muốn. 

OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG 
OM AH HUNG chuyển di tâm thức tới các cõi Tịnh Độ của sự kinh nghiệm. 
VAJRA chuyển di tâm thức tới Tịnh Độ Hỉ Lạc Hiển Lộ phương đông. 
GURU chuyển di tâm thức tới Tịnh Độ Vinh Quang và Tráng Lệ phương nam. 
PEMA chuyển di tâm thức tới Tịnh Độ Cực Lạc phương tây. 
SIDDHI chuyển di tâm thức tới Tịnh Độ Hoạt Động Xuất Sắc phương bắc. 
HUNG chuyển di tâm thức tới cõi Tịnh Độ Bất Động ở trung tâm. 

Nếu một hình tướng vật lý có thể biểu lộ sự lợi lạc của ngay cả một lần trì tụng OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG, thì toàn thể trái đất sẽ không chứa nổi những công đức. Tất cả những chúng sinh nhìn, nghe hay tưởng nhớ thần chú này sẽ dứt khoát được củng cố trong hàng ngũ những bậc trì giữ giác tánh (Trì Minh Vương) nam và nữ. Nếu đúng là những lời chân thực này của thần chú Kim Cương Đạo Sư không thực hiện cho chúng sinh những gì họ mong ước thành tựu giống như ta đã hứa, thì ta, Pema, đích thực là một kẻ lừa dối. Nhưng ta không dối gạt quý vị, vì thế quý vị nên thực hành phù hợp với những giáo huấn của ta. 

Cho dù quý vị không thể trì tụng thần chú vì bất kỳ lý do gì, quý vị nên treo nó trên đỉnh một ngọn cờ chiến thắng, ngay cả khi gió chạm vào nó, và làn gió đó chạm vào những chúng sinh, thì không còn nghi ngờ gì nữa, làn gió sẽ giải thoát họ. Quý vị cũng có thể viết nó trên đất sét hay khắc chạm trên đá. Thần chú này cũng sẽ bảo vệ con đường trên đó những chữ này được bố trí và canh giữ miền đất không bị những tác động xấu. Quý vị cũng có thể viết thần chú này bằng mực vàng trên giấy xanh dương đậm và mang nó như một bùa hộ mạng. Khi quý vị chết, nếu bùa này được đốt cùng tử thi của quý vị, những cầu vồng sẽ xuất hiện và tâm thức quý vị sẽ được chuyển di tới các cõi Cực Lạc. Không có cách đo đạc chính xác nào hay không tiêu chuẩn đo lường nào có thể xác định được những lợi lạc của việc viết ra hay đọc hoặc trì tụng thần chú này. Sau khi biên soạn bản văn này vì lợi ích của chúng sinh trong tương lai, ta cất dấu kho tàng này. Cầu mong nó gặp được một đứa con may mắn có thiện nghiệp của ta trong tương lai. Samaya. Đã niêm phong. Đã niêm phong. Đã niêm phong.” 

Nguyên tác: Tha Vajra Guru Mantra 
Vajrayana Foundation Hawaii 
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên 

Nguồn : ThuVienHoaSen , xin phép chú Thanh Liên Trung Sơn .



Thứ Năm, ngày 26 tháng 1 năm 2012

HÒA THƯỢNG THÍCH TỪ QUANG BẬC CHÂN TU - HỌC GIẢ UYÊN BÁC

 HÒA THƯỢNG THÍCH TỪ QUANG 
BẬC CHÂN TU - HỌC GIẢ UYÊN BÁC

THẨM LƯỢNG ĐOÀN
  

Thượng Tọa Thích Trí Quảng
Thượng Tọa Thích Minh Thành
Thượng Tọa Thích Giác Toàn
Thượng  Tọa Thích Thiện Nhơn
Thượng  Tọa  Thích Thiện Trí
Thượng  Tọa  Thích Giác Hạnh
Thượng  Tọa  Thích Thiện Thông
Thượng  Tọa  Thích Giải Quảng
Thượng  Tọa  Thích Nhuận Hải
Thượng  Tọa  Thích Viên Giác
Giáo Sư Trí Không
Giáo Sư Hồng Sơn


TỪ BI VI TÂM HOẰNG PHẬT PHÁP
QUANG MINH TỰ TÁNH CHIẾU NHƠN TÌNH
Cố Hòa Thượng THÍCH TỪ QUANG (1888 - 1991)
Pháp Chủ Giáo Hội Thiền Tông Việt Nam
Viện Chủ Chơn Đức Thiền Viện




Triêm Khâm Thượng Đức 
Kính bạch Giác Linh Sư Ông,
Con kính biết, trọn một đời học đạo và hành đạo của Sư Ông suốt một thế kỷ mang dáng dấp của một Hương Hải Thiền Sư : 
Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm
Nhưng,
Lý vô thường sắc không không sắc.
 Thân tứ đại sanh tử tử sanh.
Thì hôm nay, hậu côn chúng con :
Dù mơ màng dáng dấp ngàn thu,
mưa mờ dấu bước
Thời phảng phất mộng hồn muôn thuở,
khói tỏa hình dung
Cúi lạy Giác Linh sư ông.
Dẫu biết rằng :
Ta Bà cõi tạm, nơi gửi thân sanh tử trăm năm
Cực lạc quê hương, chốn an mạng niết bàn muôn thuở.
   
Nhưng,
Con Ta Bà - Sư Ông Cực Lạc
Biết bao sùi sụt nổi ly tư
Sửa pháp mất rồi, lòng con đói mãi
Thiền phòng vắng vẻ, trượng thất bụi mờ.
Giờ đây,
Nhục thân Sư ông trở về cõi vô cùng
Chúng con mất vĩnh viễn Tôn Sư khả kính
Lòng đau ruột thắt
Mây trắng vờn bay.
Bên đây bờ sinh diệt, con thổn thức
hồn côi dâng lời tưởng niệm
Bên kia bờ tịch diệt, Sư ông mẫn thùy
chứng giám phóng tịnh quang minh
Dù biết đạo vốn ly ngôn - tuyệt tướng, hôm nay viết lên tập này tự xa rời đạo. Nhưng e người sau chẳng tỏ nguồn cội, nên mạn ý kháng lời di huấn. Những mong Sư ông ai mẫn, hậu bối kiền thiền hòa nam bái tạ.
Nam mô Chơn Đức đường thượng. Từ lâm tế Gia Phổ tứ thập thế húy Hồng Liễu thượng Từ hạ Quang Đại lão hòa thượng chi giác linh.
Đại Tòng Lâm, ngày 12 tháng 9 năm 1997
Pháp tôn Thích Thiện Thuận
Kính bái


Đạo Phật là ánh sáng của Trí Huệ và là suối nguồn từ bi làm tươi mát hồn người và tạo sự an vui cho cuộc đời. Nên ngay từ buổi bình minh tự chủ của dân tộc, đạo Phật đã có những mối duyên liên hệ thắm thiết đến sự tồn vong của dòng sinh mệnh Việt Nam, Dân tộc Việt Nam.
Và như chúng ta đã biết, khi hệ giáo lý GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT của đạo Phật được truyền vào Việt Nam thì người Việt đã rất nồng nhiệt hân hoan đón nhận một cách chân tình, coi đó là mạch sống của dân tộc hợp với lối sống tình cảm, tâm linh, đạo đức, suy tư và hành xử của người dân bản địa.
Do những nhân duyên hội ngộ ấy, đạo Phật có mặt tại Việt Nam với chiều sâu và bề dày lịch sử XX thế kỷ, đã cùng dân tộc phấn đấu giành quyền cho một nước Việt Nam tự chủ, độc lập; đã gầy dựng một đất nước có nếp sống “dân phong quốc tục” đẹp làm vẻ vang cho nòi giống Lạc Hồng. Xuyên qua những đóng góp to lớn trong công cuộc dựng nước và giữ nước của đạo Phật Việt, kể từ các vương triều : Tiền và Hậu Lý Nam Đế (542 - 603) mở nền tự chủ cho nước nhà; đến nhà Đinh (968 - 980) và Tiền Lê (980 - 1009) đạo Phật đã mặc nhiên được trìều đình công nhận coi như QUỐC GIÁO của toàn dân; sang nhà Lý (1010 - 1225) và tiếp theo nhà Trần (1225 - 1400), đạo Phật lại càng được phát triển mạnh trong đời sống xã hội … đồng thời mở mang trên khắp mặt sinh hoạt quốc gia, đem an lành hạnh phúc đến với toàn dân ; thương yêu tràn ngập … thì đồng thời nền văn hóa Đại Việt cũng vươn lên tuyệt đỉnh vinh quang !
Phật giáo đã chứng kiến và  gắn liền với bao cảnh thăng trầm, hưng suy của đất nước và tồn tại với non nước hồn thiêng như một chứng nhân lịch sử, mà duy trì vẫn là những Cao tăng thạc đức đã sống và hành đạo trong lòng dân tộc suốt hai thiên niên kỷ qua.
Hòa thượng Thiền sư THÍCH TỪ QUANG (1888 - 1991) tuy không có công hạnh kỳ bí của Không Lộ và Giác Hải, tuy không uyên thâm như Thanh Biện và Viên Thông, tuy không siêu thoát tự tại như Thiền Lão Thiền sư hay mẫu mực như Định Huệ, Liễu Quán … nhưng Hòa Thượng vẫn sáng ngời với công hạnh

“Tự giác - giác tha”. Hòa Thượng là bậc chân tu đức cao lạp trưởng hết lòng mẫn thế hộ đạo, và cũng là một nhà tu hành trí thức góp phần không nhỏ cho công cuộc chấn hưng Phật Giáo nước nhà trong những thập niên 40 - 50.
Hòa Thượng đã tịch diệt an vui chốn vĩnh hằng, chứng Niết Bàn bất sinh bất diệt. Thiết nghĩ, đầu cần ca tụng làm chi, dẫu có lạm bàn cũng không xứng với công đức vĩ đại của Ngài lúc sinh tiền. Nhưng, phận hậu học tự không thể để cho mai một, nên chẳng ngại trí kém tài thơ mà ôn lại cuộc đời hoằng hóa của Ngài để làm phương châm tu học, và mạo muội viết thành tập Tiểu luận
“HÒA THƯỢNG THÍCH TỪ QUANG - BẬC CHÂN TU - HỌC GIẢ UYÊN BÁC” với thiển ý mong đời này đời sau có dịp nhớ về nguồn cội.
Vì thời gian tra cứu có hạn mà cuộc đời hành đạo của Hòa Thượng quá siêu việt; vả lại, tài liệu quá ít ỏi nên chắc chắn tập Tiểu luận này còn nhiều thiết sót, lầm lẫn. Rất mong được tiếp đón sự thông cảm và chỉ giáo của chư Thiện tri thức.
Đại Tòng Lâm, tiết Trung thu 97
Sinh viên THÍCH THIỆN THUẬN
Cẩn chí

Nội dung chính





“... Mai này tôi bỏ quê tôi,
Bỏ trăng bỏ gió, chao ôi bỏ chùa …
… Quê tôi có gió bốn mùa,
Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm”.
Thật vậy, trên từng bước đường làng rộn ràng tiếng chim hót reo vui trong ánh nắng đẹp từ miền ngược đến miền xuôi, từ đô thành rực rỡ đèn hoa đến xóm làng hoang vu hẻo lánh, từ đồng bằng bốn mùa cây trái cạnh dòng sông hiền hòa có lũy tre già đong đưa bóng mát đến núi rừng thâm u cô tịch quanh năm thác đổ thông reo … khắp mọi miền của đất nước, hình ảnh uy nghi trầm mặc của ngôi chùa đã in đậm vào ký ức của mọi người, và tiếng chuông chùa huyền diệu đã lắng đọng tận tầng sâu thẩm của tâm thức người dân tộcViệt . Nơi đó đã che chở giống nòi sau mấy độ can qua như một chứng nhân lịch sử đã chứng kiến bao cảnh đổi thay của thế sự phù trầm, lắm cuộc hưng vong của đất nước mấy ngàn năm văn hiến.
Tuy đơn độc giữa cảnh đời dâu bể, nhưng nơi đó vẫn vang đều nhịp mỏ hồi chuông như giục giã khách trần qua bể khổ, và nơi đó vẫn ngân vang khoan nhặt những lời kinh tiếng kệ như âm thầm nhắc nhở kẻ tục thoát vòng mê.
Gắn liền với những ngôi chùa làng thân thương là những Tăng Sĩ luôn dạt dào tình yêu thương vạn loại vô bờ bến giữa quê hương chứa chan tình Đạo vị. Nổi bật trong các vị Cao Tăng tài đức vẹn toàn của thế kỷ XX là hình ảnh khả kính và đạo phong nghiêm tịnh của Hòa thượng Thiền sư Thích Từ Quang - Một danh Tăng uyên bác về thế học lẫn đạo học của Phật giáo Việt Nam.
Là hậu học đã hơn một lần thắm nhuần ơn “truyền đăng tục diệm” của Ngài, lẽ đâu lại quên câu “ẩm thủy tư nguyên” mà bỏ ngoài tâm trí về cuộc đời hoằng hóa của một bậc “Long tượng chốn Thiền môn”.
Ngược dòng thời gian, lật từng trang sử dân tộc, chúng ta thấy Phật giáo đã có từ trên 2500 năm nhưng được du nhập vào nước ta đã có gần 2000 năm lịch sử, mà Mật Tông được truyền vào sớm nhất. Về sau, tư  tưởng Thiền Tông của Phật Giáo đã từng làm bá chủ dưới các triều đại Đinh - Lê - Lý - Trần; Và nhất là thời đại nhà Trần, phái Thiền Trúc Lâm đã kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa Thiền - Tịnh - Mật trong công phu hành trì mà thượng chủ là Điều Ngự Giác Hoàng - Trần Nhân Tông. Với uy đức của Trúc Lâm đại Đầu Đà, phương pháp tu

tập này nhanh chóng lan tỏa khắp mọi miền đất nước lúc đương thời. Đó là nhận xét ở bình diện đại thể. Nhưng thực tế, nó ảnh hưởng sâu sắc vào đời sống tu tập của Tăng tín đồ trong toàn quốc đến tận ngày nay, dù phải đương đầu với bao thảm kịch diệt vong vì chính trị của các vương triều Lê (*)  - Nguyễn.
Hôm nay, chúng ta sẽ thấy rõ đường lối tu tập của thiền phái Trúc Lâm -Yên Tử được hiển hiện bàng bạc suốt cả cuộc đời tu hành và hoằng truyền Phật pháp của cố Đại lão Hòa Thượng Thích Từ Quang.
(*)Hậu Lê

HÀNH TRẠNG CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH TỪ QUANG
Hòa thượng Thích Từ Quang thế danh Thái Bình Dương, sinh vào giờ Tý ngày mùng 01 tháng giêng năm Mậu Tý (1888) trong một gia đình quan chức có truyền thống Phật Giáo tại Gia Định. Cha là Đốc phủ sứ Thái Sanh Tài và mẹ là Bà Nguyễn Thị Nhiều. Ông bà sanh được 10 người con và Hòa Thượng là người con thứ 8 trong gia đình. Dù bộn bề việc nước việc dân, nhưng ông bà nuôi dạy con cái rất mực chu đáo.
Riêng Hòa Thượng từ khi vừa biết ăn, hễ đút thức ăn có mùi thịt cá thì nhả ra mà không chịu nuốt. Tròn một tuổi, gia đình tổ chức lễ “Thôi nôi” rất linh đình. Theo tục lệ cổ truyền, ngày lễ này ông bà đem ra trước mặt đứa bé một cái nia mà trong đó có sắp nhiều thứ đồ vật, mỗi vật tượng trưng cho một nghề và cho đứa trẻ chọn lấy theo sở thích. Ông bà ta quan niệm : đó là số phận đã an định cho đứa  trẻ qua lần “chọn nghề” đầu đời này. Và Hòa Thượng đã chụp lấy quyển kinh một cách thích thú mà không hề lấy thêm một món nào khác (tấm ảnh này hiện còn lưu giữ tại Chơn Đức Thiền Viện ở Bà Chiểu - TP.HCM).
Cả gia tộc đều vui mừng với nghiệp “kinh sử” mà bé Bình Dương đã chọn, nhưng Bình Dương không dừng lại ở một sĩ tử chuyên lo bút nghiên kinh sử như mọi người mừng tưởng, mà Bình Dương vượt ra ngoài định kiến thường tình của mọi người và của gia đình, bước sang một chân trời mới với sự nghiệp “hoằng pháp lợi sanh” của một đời Tăng Sĩ.
May lúc còn rất nhỏ. Bình Dương tỏ ra là một đứa trẻ thông minh lạ thường nên được mọi người thương mến và chìu chuộng. Lúc lên 5 tuổi (1892), mẹ dẫn lên chùa Giác Viên quy y thế phát với Hòa Thượng Hoằng Nghĩa và được đặt pháp danh là TỪ QUANG Húy NGỘ MINH thuộc dòng Lâm Tế Chánh tông đời thứ 39.
Từ đó, chú tiểu Từ Quang sớm hôm hầu hạ Bổn sư nơi Giác Viên tự, nhơn bẩm tánh thông minh nên chú kinh kệ rất mau thuộc. Lớn lên, được sự quan tâm của gia đình và sự ưu ái đặc biệt của Bổn sư nên chú tiểu Từ Quang được học đời song song với học đạo. 
Ở chùa thì chú tiểu Từ Quang là một chú điệu siêng năng bái sám tụng niệm, ở trường thì chú tiểu là một học sinh chăm chỉ học tập nên chú giành được cảm tình ở mọi người trong Đạo cũng như ngoài đời. Và không để phụ lòng mọi người 1908, Hòa Thượng đã xuất sắc đậu Thủ khoa trong kỳ thi tú tài II tại trường Chasseloupa - là một trường trung học nổi tiếng của Pháp thời bấy giờ (hiện nay là trường chuyên Lê Quý Đôn ở TP. Hồ Chí Minh).
Cũng trong năm đó (1908), Pháp tập trung các học sinh của 18 nước thuộc địa đã đạt loại giỏi trong kỳ thi Tú Tài II vừa rồi đến Sài Gòn và tổ chức thi tuyển lại để chọn người thực tài sang Pháp du học. Và một lần nữa, Hòa thượng đã xuất sắc đổ Thủ khoa, mang vinh dự về cho nước nhà nói chung và Phật giáo nói riêng. Điều đó đã khẳng định tài và trí của Hòa Thượng liệt vào hàng thượng thặng, độc nhất vô nhị.
Và Hòa Thượng đã sang Pháp học với niềm tin tưởng vào thệ nguyện vô biên của mình - một Tu sĩ trẻ tràn đầy nhiệt huyết “xương minh Phật Pháp” ở những đất nước ngập tràn khói lửa, đem đến an lạc hạnh phúc cho mọi người trong thời binh biến, và mong được xoa dịu nổi đau của vết thương chiến tranh đã và đang hằn sâu vào tâm tư nhân loại.
Thế là một chân trời mới hiện ra trên con đường học vấn của Hòa Thượng.

Suốt 11 năm miệt mài học tập và nghiên cứu tại Đại học Sorbone ở Pháp, Hòa Thượng đổ hai bằng Tiến sĩ Văn chương và Triết Học với luận án xuất sắc. Bao năm tháng chuyên cần học tập nơi xứ lạ quê người giờ được đền bù xứng đáng. Xa quê hương với bao nổi niềm thương nhớ - nhớ thương những người thân nơi đất nước nghèo nàn lạc hậu nằm cạnh Biển Đông êm ả nhưng lại phủ đầy đau thương tang tóc bởi chiến tranh. Nổi đau của chiến tranh ngày một đi sâu vào lòng đất Mẹ chính là động lực thúc đẩy Hòa Thượng càng dũng mãnh hơn, cần mẫn hơn trong học tập.

Chơn dung Hòa Thượng Từ Quang năm 25 tuổi
Với kết quả mỹ mãn ấy nên Hòa Thượng được chính phủ Pháp mời làm Giáo sư giảng dạy tại Đại học Sorbone 6 năm, nơi mà Hòa Thượng từng theo học.
Điều đáng nói là suốt 17 năm học và dạy Đại học Sorbone này, Hòa Thượng đã cương quyết đấu tranh để bảo vệ “chiếc áo nâu sòng “của đời Tu sĩ xa nhà trước áp lực của chính phủ Pháp. Nhưng cốt cách phi thường cộng thêm kiến thức uyên bác và tài hùng biện của Hòa Thượng, chính phủ Pháp đành nhượng bộ trước một Tăng sĩ sáng ngời TRÍ - ĐỨC của đất nước Việt Nam bé nhỏ, lạc hậu.
Nhưng rồi, lý tưởng giác ngộ đã thôi thúc người Phật tử chơn chánh ấy, nổi khổ đau do vọng kiến và vô minh che phủ bao chúng sanh đã thật sự hòa cùng nhịp đập trái tim “tình thương” của Người, và liên hồi giục giã Hòa Thượng đi tìm chơn lý.
Thế là Hòa Thượng bỏ lại sau lưng một học vị cao tột của đời người mà mấy ai vươn tới và đạt được hạnh phúc trong ánh quang vinh ấy. Năm đó, Hòa Thượng tròn 37 tuổi.


Khởi đầu cho chuyến du phương tham học Phật pháp, 1925, Hòa Thượng sang Aán Độ học tại Đại học nổi tiếng Nalanda, với kiến thức học Phật sẵn có lúc còn ở Việt Nam, cộng thêm sự hiểu biết sâu rộng về các nền triết học Đông - Tây, nên sau 4 năm, Hòa Thượng đổ Tiến sĩ Phật học tại Đại học Nalanda một cách xuất sắc.
Vào thời điểm này, phong trào Chấn hưng Phật giáo được khởi xướng ở Trung Hoa lục địa và nhanh chóng lan truyền đến các nước lân cận dưới sự cổ súy của Thái Hư Đại sư. Ngay lúc đó (1929), Hòa Thượng sang Trung Hoa cùng học với ngài Thái Hư. Sau 4 năm chuyên cần học tập, Hòa Thượng đã đậu Tiến sĩ Phật Học tại Trung Hoa.
Học Phật uyên thâm như vậy nhưng Hòa Thượng vẫn chưa cho là đủ để ra hoằng pháp, và Ngài lại để tâm học hỏi nghiên cứu y học cổ truyền tại Trung Hoa - đất nước ngàn năm văn vận này để tiện bề hoằng hóa về sau.
Với chí nguyện :
“ Tình sưu nghĩa lý
  Truyền xuống phu dương
  Tiếp dẫn hậu lai
  Phò trì mạt vận”
Hòa Thượng bắt đầu lên đường hoằng dương Phật pháp. Bao khó khăn, trở ngại về ngôn ngữ cũng như tập quán của 24 quốc gia mà Hòa Thượng đi qua … tất cả đều được khắc phục nhanh chóng và  hòa nhập cộng đồng một cách tài tình bởi “Tài và Trí” của một danh tăng. Những đất nước Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, La Mã, Hy Lạp, Tây Tạng. Ấn Độ, Cao Miên v.v… vẫn còn lưu dấu người Tu sĩ lỗi lạc ấy.
Đặc biệt, thời gian hoằng hóa ở La Mã, Hòa Thượng vinh dự được đức Giáo Hoàng tiếp chuyện một cách thâm tình và còn tặng cho Hòa Thượng một quyển Thánh kinh bìa bằng vàng 14k có chạm nổi hình Thập tự giá, trong quyển thánh kinh được ghi bằng 07 (bảy) thứ tiếng mà kích thước chỉ bằng lóng tay đứa trẻ 02 tuổi, hiện quyển sách còn được lưu giữ tại Chơn Đức Thiền Viện tại Bà Chiểu, TP. Hồ Chí Minh .

Bút pháp của H.T. Thái Hư 
Tặng HT Từ Quang
“Từ  bi vi tâm hoằng Phật pháp
Quang minh tự tánh chiếu nhơn tình”
Từ Quang Pháp Sư kỷ niệm.

Phái qui y của Hòa Thượng

Chứng điệp thọ Tỳ Kheo giới của HT

Quyển Thánh Kinh của Đức Giáo Hoàng tặng Hòa Thượng
Theo lời của Hòa Thượng thì trên thế giới chỉ có 06 (sáu) quyển sách như vậy, mà Hòa Thượng là một trong số sáu người vinh dự được đức Giáo Hoàng tặng. Như vậy, không riêng Hòa Thượng mà cả dân tộc Việt Nam đều hưởng chung niềm vinh dự ấy.
Đến khoảng 1960 - 1962, Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình (lãnh đạo tối cao Công Giáo Miền Nam) có đến yết kiến Hòa Thượng và ngỏ ý sẽ xây một ngôi chùa theo ý Hòa Thượng (nếu Hòa Thượng muốn) để mong được thỉnh lại quyển Thánh Kinh vô giá ấy, với lý do : quyển Thánh Kinh này là bảo vật của Thiên Chúa Giáo, theo quan niệm của ông (Nguyễn Văn Bình). Nhưng Hòa Thượng đã khéo léo từ chối : “Đây là kỷ vật của bạn tôi, tôi không thể làm gì hơn được, xin thông cảm !”.
Nhưng rồi, Việt Nam - non nước hồn thiêng, Gia Định - quê hương nồng nàn chứa chan tình yêu thương vô bờ, Viên Giác - Chùa xưa thắm thiết tình đạo vị, pháp lữ … hình ảnh thiêng liêng ấy làm vang dậy tiếng gọi của con tim dạt dào tình thương nơi một Tăng sĩ chói ngời hạnh vô ngã vị tha - và đã kéo Ngài quay về đất Mẹ sau 25 năm xa xứ - ¼ thế kỷ “mang trống đi đánh xứ người”, quả là một điều hiếm thấy trong giới Tu sĩ nước ta thời bấy giờ.

Sau hơn 25 năm du phương tham học và hoằng hóa Phật pháp khắp các đạo tràng nổi tiếng trên Thế giới ; năm 1935, Hòa Thượng trở về Việt Nam với tâm nguyện của một “Như Lai sứ giả”. Được sự đồng ý của Bổn sư, Hòa Thượng sửa ngôi nhà của PT cúng dường ở Bà Chiểu lập thành Thiền Viện đặt tên là Chơn Đức để làm trụ xứ thuận tiện cho việc vừa hoằng vừa tịnh tu.
Năm 1936, Hòa Thượng được mời tham dự Đại hội, của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật Học ở chùa Linh Sơn (Cầu Muối) do ông Comi Chấn tổ chức. Trong Đại hội này, Hòa Thượng Thích Huệ Pháp (Tổ khai sơn chùa Long Khánh ở Châu Đốc) được bầu làm Hội Trưởng. Từ đây, Hòa Thượng cộng tác với Hội trong lĩnh vực soạn dịch và giảng dạy kinh điển.

Chánh điện Chơn Đức Thiền viện ở  Bà Chiểu 
Từ khi về nước, Hòa Thượng nhận thấy giới Tăng già và trí thức trong nước đứng ra hô hào, vận động, cổ vũ Chấn Hưng Phật Giáo và thành lập các hội Phật học ở khắp ba miền. Các Hội đều có mở trường Tiểu - Trung - Đại học Phật giáo cho Tăng tín đồ các nơi về tham học, đồng thời, lập các thư viện, xuất bản kinh sách, báo chí … Tuy nhiên, trước cảnh rẻ chia, bất hòa của các Tăng lữ ở các Hội ngày một gay gắt và bị lồng bởi sự thao túng của chính quyền Pháp, nên Hòa Thượng từ từ rút chân ra khỏi các đoàn thể và ngày một ít tham gia các phong trào, đành gác lại chí nguyện “hòa quang đồng trần” mà chỉ lo chuyên tinh Thiền nghiệp.
Khoảng 1945 - 1950, Hòa Thượng cầu Pháp với tổ Từ Nhẫn - Như Đắc và được ban pháp hiệu là Từ Quang húy Hồng Liễu thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 40. Từ đó chuyên tu với pháp chỉ “Trúc-Lâm song hành”, nghĩa là Hòa Thượng thực tập theo pháp môn của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do Điều Ngự Giác Hoàng-Trần Nhân Tông sáng lập. Đây là một phái Thiền thuần túy của Việt Nam đầu tiên trong lịch sử Phật Giáo với chủ trương kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa ba tông Thiền - Tịnh - Mật.
Nhờ công phu miên mật nên ngày 18 tháng 8 năm Canh Dần (1950) Hòa Thượng được Tổ Từ Nhẫn - Như Đắc phó pháp với bài kệ :
“Hồng luân dõng xuất ánh Thiền tông
  Liễu đạt chơn như ngộ tánh không
 Từ tế tứ sanh đăng bỉ ngạn
 Quang minh chiếu diệu chấn gia phong”.
Và cũng trong năm này, Hòa Thượng ra công sức trùng tu lại chánh điện để nơi lễ bái của Phật tử thập phương được tôn nghiêm.
Dù là một học giả uyên bác, nhưng Hòa Thượng luôn giữ hạnh nhu hòa và thể hiện phong cách khiêm tốn trước mọi người ; vì thế nên càng được mọi người kính phục - Nhất là trong lần tiếp đón Bác sĩ Malalasckera tại chùa Khánh Hưng vào ngày 23 tháng 05 năm 1951 của Hội Phật Học Nam Việt do ông Mai Thọ Truyền (Tổng thư ký của Hội) tổ chức. Tại buổi lễ đón tiếp, Hòa Thượng đã làm mọi người đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác mà không ít nhà trí thức đã thán phục. Sự kiện này được nêu rõ trong bài “Một sự lạ trong giới Tăng già Việt Nam - Hay là tôi gặp sư Từ Quang, một ông Tiến sĩ cạo đầu đi tu “của phái viên Trương Tấn Lợi đăng trên báo Thần Chung số 666 ra ngày 25/03/1951. Nội dung như sau :

Theo lời của Giáo sư Nguyễn Hồng Sơn :
Mùa An cư kiết hạ năm Canh Dần (1950), chúng tăng ở Phật học đường Liên Hải, Giáo Nguyên di chuyển đến Sùng Đức, về sau hợp nhất với học chúng ở Phật học đường Mai Sơn lập thành Phật học đường Nam Việt đầu tiên ở chùa Ứng Quang (sau đổi tên là Ấn Quang), Hòa Thượng Thiện Hòa được cử làm Giám Đốc cũng thường lui tới Chơn Đức Thiền Viện thỉnh Hòa Thượng Từ Quang cộng tác giảng dạy, nhưng Hòa Thượng Từ Quang vẫn một mực chối từ.
Nhơn khi ngài Narada Mahathera mang Xá Lợi Phật từ Tích Lan sang tặng cho Phật giáo Việt Nam, nhưng quí thầy không biết Anh ngữ để trực tiếp nói chuyện với ngài Narada trong buổi tiếp đón cực kỳ long trọng nầy. Vì vậy, Hòa Thượng Từ Quang được thỉnh ra tiếp ngài Narada bằng tiếng Anh rất lưu loát trước sự kính nể của chư Tôn túc hiện thời. Và càng nổi bật hơn hết là buổi tiếp Bác sĩ Malalasekera ở chùa Khánh Hưng, Hòa Thượng đã nói tiếng Anh rất thạo như một người Anh chính thống làm mọi người đều kính phục và tán thán hết lời. Giáo sư Nguyễn Hồng Sơn kể lại :
“… Hồi đó, tôi cùng học chúng của Phật Học Đường Nam Việt ở Ấn Quang đều có mặt ở chùa Khánh Hưng trong buổi lễ tiếp đón vị Bác sĩ tài ba Malalasekera. Lần đầu tiên tôi gặp một tăng sĩ  trí thức nói tiếng Anh như gió. Về hỏi ra mới biết đó là Hòa Thượng Thích Từ Quang mà hầu hết chư Tôn Đức thời bấy giờ đều kính trọng. Nhưng tôi lại không ngờ lần gặp đầu tiên đó cũng là lần cuối cùng, vì Hòa Thượng ít khi ra khỏi Thiền Viện và dường như Hòa Thượng cũng ít tham dự các lễ lộc lúc ấy. Từ nhỏ đến giờ 1997), tôi chưa gặp một vị Tôn túc nào như Hòa Thượng Từ Quang về sở học cũng như sở tu. Hòa Thượng là một nhà trí thức lớn của Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ XX này”.
Thật đúng như vậy, với tài cao đức trọng cộng thêm đức tánh khiêm cung nên Hòa Thượng được mọi người cung kính. Chính vì thế, năm 1954, Hòa Thượng được thỉnh về chùa Linh Sơn (Cầu Muối) để điều hành Phật sự với chức vụ Hội Trưởng Hội Linh Sơn Phật Học Nghiên cứu (hậu thân của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học) sau khi ông Comi Chấn sang Pháp. Sự việc này được phản ánh qua bài phóng sự của Thượng Đạt đăng trên báo Lẽ Sống số 2071 ra ngày Chủ nhật và Thứ hai 13/03/1961 với nội dung như sau : 

Rõ ràng, có một kiến thức về thế học quảng bác và sự hiểu biết uyên thâm về nội điển Phật học, cộng thêm vào đó là một địa vị cao trong xã hội; thế nhưng Hòa Thượng vẫn chẳng tham cầu danh lợi mà an bần thủ đạo, và công hạnh khiêm tốn - ôn hòa luôn được thể hiện nơi Ngài. Một lần nữa, chúng ta thấy Hòa Thượng được giới trí thức kính phục, như bài phóng sự  của Tế Xuyên đăng trên báo Tiếng Dội Miền Nam số 212 ra ngày thứ hai 19.2.1962.

Dù công việc của Hội rất bận rộn nhưng Hòa Thượng luôn giữ đúng thời khóa thu tập ở Bổn viện một cách nghiêm mật. Và để đáp ứng nhu cầu học Phật của thính chúng Phật tử, năm 1954 Hòa Thượng đã xây dựng một giảng đường. Song song với chương trình thuyết giảng Phật pháp, Hòa Thượng đã mở thêm các lớp ngoại ngữ Anh và Pháp dạy cho Phật tử, và các lớp học này đã quy tụ giới trí thức đương thời đến dự học rất đông. Dù dạy Phật pháp hay thế gian pháp, nhưng Hòa Thượng chỉ nhằm hướng dẫn con người tự cải thiện thân tâm của mình để cùng góp phần vào sự hạnh phúc của nhân loại, rưới nước tình thương dập tắt lửa hận thù trong tất cả chủng tộc - Đó chính là “Bức thông điệp Từ bi của đức Phật” vậy.
Trong mỗi giời giảng, thính chúng rất đông và hầu hết đều rất kính phục tài đức của Hòa Thượng, như báo “Le Journal D’extrême - Orient” số 4122 ra ngày thứ ba 7.8.1962 đã đăng.


Tam dịch :
NHẬT BÁO VIỄN ĐÔNG
Số 4122, ngày thứ ba 7.8.1962
[Thuyết Pháp] ở chùa Từ Quang
Sài Gòn - Sáng Chúa nhật (5.8.1962) tại Chùa Từ Quang ở đại lộ Ngô Đình Khôi (nay là đường Phan Đăng Lưu) Tôn giả Từ Quang - Tiến sĩ triết học thuyết pháp với đề tài “Phật Giáo và đời sống xã hội”.
Trước một pháp hội đông đảo và nhiệt thành, Tôn giả Từ Quang đã nhấn mạnh rằng : Học thuyết của Phật Giáo không tách rời
ra khỏi thế giới như mọi người đã tưởng. Trái lại, nó hằng thiên về cuộc sống của con người và vạn vật.
Như vậy, mỗi Thiện Nam tín nữ  phải tự hoàn thiện cuộc sống và làm tròn vai trò của mình trong xã hội tùy theo đức tính tiêu biểu của Phật Giáo (Từ  bi, trí tuệ và dự đoán trước thời gian phải làm (v.v…)

Mặc dù bề bộn công việc của chùa của Hội, nhưng Hòa Thượng vẫn thường xuyên xuống các tỉnh Miền Tây giảng thuyết Phật pháp ở các chùa như : Chùa Diên Quang (Khánh Hậu - Long An), chùa Long Phước (Tân Lý Đông - Mỹ Tho), chùa Linh Phong (Tân Hiệp - Mỹ Tho) v.v… và nhiều chùa khác ở Bến Tre, Châu Đốc … Đến 1975, Hòa Thượng mới không còn về miền Tây thuyết Pháp vì sức khỏe không cho phép và phương tiện giao thông lúc bấy giờ rất khó khăn.
Ngày rằm tháng 7 năm Mậu Tuất (1958), Hòa Thượng được Bổn sư là Tổ Hoằng Nghĩa phó Pháp với bài kệ :
“Ngộ đạo chơn như Bát Nhã tông
  Minh tâm kiến tánh đạt Thiền ông
  Từ vân phổ phú tam thiên giới
  Quang chiếu huy hoàng giới định thông”.
Trong lịch sử Phật giáo nước nhà, chúng ta hiếm thấy có vị nào được 2 bậc Tổ ấn khả truyền kệ phó pháp; mà Hòa Thượng Thích Từ Quang là người được truyền kệ 2 lần ở 2 bậc cao tăng là Tổ Từ Nhẫn và Hoằng Nghĩa.
Ở vào tuổi “cổ lai hy” mà Hòa Thượng vẫn không tạm nghỉ ngơi, suốt tháng trọn năm chuyên tu đạo nghiệp và soạn dịch kinh điển.
1950, Hòa Thượng khai đại giới đàn đầu tiên ở Chơn Đức Thiền Viện, và làm Đường Đầu Hòa Thượng truyền giới cho hàng trăm giới tử khắp cả Lục tỉnh Nam Kỳ.
Biết Hòa Thượng là vị tài đức song vận và học thức uyên thâm, nên 1963 thời Pháp nạn, Tổng thống Ngô Đình Diệm phái Ngô Đình Nhu đến Chơn Đức Thiền viện mời Hòa Thượng ra làm Đại Sứ cho Việt Nam ở Tây Đức. Nhưng Hòa Thượng một lòng ưa cảnh lâm tuyền vắng lặng, chẳng tham đắm bả lợi danh. Vả lại, gương Minh Châu - Hương Hải và Nguyên Thiều - Siêu Bạch vẫn còn đó, nên Hòa Thượng nhất dạ chối từ lời đề nghị của chính phủ Diệm - Nhu mà được chăm lo công phu thiền quán lúc tuổi về chiều, gần đất xa trời.
Năm 1965, Hòa Thượng từ chức Hội Trưởng và giao Linh Sơn Phật Học Nghiên Cứu lại cho Hòa Thượng Nhựt Minh. Sau đó, Hòa Thượng sáng lập Giáo Hội Thiền Tông Việt Nam đặt trụ sở tại Phật Bửu Tự (Quận 3, TP.HCM) mà người ta thường gọi là Thiền Tịnh Đạo Tràng, và thỉnh Hòa Thượng Minh Trực làm chủ tịch, Hòa Thượng làm phó chủ tịch. Nhưng sau khi Hòa Thượng Minh Trực viên tịch, Hòa Thượng được suy tôn ngôi vị Pháp Chủ của Giáo Hội Thiền Tông Việt Nam.
Để tạo cơ sở vững chắc cho Tăng chúng tu học lâu dài, năm 1967, Hòa Thượng cho sửa sang miếng đất ở xã Tân Hiệp huyện Hóc Môn và xây dựng thêm một ngôi Thiền Viện thứ 2 vẫn lấy tên là Chơn Đức. Đến 1973 thì công trình xây dựng hoàn tất.
Suốt khoảng thời gian 1965 - 1975, dù tuổi cao sức yếu nhưng Hòa Thượng vẫn thường thuyết giảng Phật pháp tại Bổn viện Chơn Đức, nhưng mà :
“Dòng sông đời cuộn chảy
  Với thời gian vô ưu”.



 Họa phẩm Tịnh Cảnh của Hòa Thượng năm 1944

Bao ngôn từ hữu hạn của thế gian há có thể chuyển tải hết cuộc đời hành đạo của một bậc cao tăng được ư ? ! Ngài thị hiện giữa dòng đời, hòa nhập vào giòng đời và xuất ly khỏi giòng đời … tùy xứ tùy thời, tùy cơ tùy pháp mỗi mỗi đều không rời bản tâm, xin mượn lời tâm sự của  Ni sư TN Diệu Huệ để bày tỏ lòng kính ngưỡng vô hạn của hậu bối đối với Tiền nhân :
“… Không biết Thầy xuất xứ từ đâu, về thế pháp và cả xuất thế gian, với phong cách trang nghiêm, vừa trầm tĩnh và sâu thẳm của một người Châu Á, nhưng khi được tiếp xúc gần gủi với Thầy mới cảm nhận được đôi khi, ở nơi Thầy toát ra một nguồn sống động của tâm linh, một năng lực tinh thần mạnh mẽ và hoành tráng, thường chỉ thấy ở những vị cao đức.
Với một kho  tàng trí tuệ tưởng như không bao giờ vơi, Thầy ứng cảm tùy cơ linh động giảng dạy theo từng căn cơ của đệ tử, có người Thầy dạy về Tịnh độ, có người Thầy dạy về Thiền, có người Thầy truyền về Mật - Thầy dùng mọi pháp môn, phương tiện để giáo hóa khai mở Bồ đề tâm cho mọi người, lợi lạc chúng hữu tình, tùy theo mỗi trường hợp mỗi hoàn cảnh, nội tâm mà sự hóa độ mỗi khác, thật khó mà ước lượng trước được cách dụng tướng bồ đề của Thầy tự tại như thế nào, điều này chỉ ở những bậc Đạo sư cao minh đã có cái nhìn xuyên suốt và toàn diện mới thực hiện được. Và cũng lạ một điều là ngay cả những khi Thầy ngồi yên lặng không nói năng, mà được ở cạnh Thầy chỉ trong một chốc lát, thì tự nhiên bao nhiêu muộn phiền bối rối trong lòng đều tan biến đi đâu mất, chỉ còn lại một sự bình an tĩnh lặng gần như tuyệt đối. Khi tôi hỏi tại sao lại có trạng thái như vậy thì Thầy chỉ mĩm cười từ bi và nói : “Con tinh tấn tu hành sẽ biết, ở nơi  mỗi người đều sẵn có đầy đủ cả, chỉ vì không biết dùng …”.
Trích “Cảm Niệm Ân Sư”.
TN Diệu Huệ


Năm 1976, Ban liên lạc Phật giáo yêu nước được thành lập do Hòa Thượng Thích Minh Nguyệt làm chủ tịch, có thỉnh Hòa Thượng tham gia. Nhưng Hòa Thượng chỉ đến chứng minh trong những buổi lễ lớn như Phật Đản, và đến 1980 Hòa Thượng cáo bệnh từ chức. Từ đó, Hòa Thượng chuyên lo tu niệm, không bước ra khỏi cổng Thiền Viện. Đã gần 100 tuổi, nhưng Hòa Thượng vẫn trải tình thương đến mọi người như Bồ Tát ai mẫn chúng sanh; Hòa Thượng dốc hết tâm lực và thân lực của quãng đời còn lại của mình mà chăm lo sức khỏe của dân nghèo bằng cách trị bệnh : bắt mạch, ra toa hốt thuốc Bắc. Và còn mở mấy khóa dạy châm cứu và y học dân tộc miễn phí cho mọi người tại Thiền Viện Chơn Đức.
Tuy vậy, hàng năm Hòa Thượng vẫn mở giới đàn truyền  trao giới pháp cho Tăng Ni Phật Tử.
Từ năm 1980 đến 1990 vì tuổi cao và sức khỏe không cho phép nên Hòa Thượng chỉ thuyết pháp mỗi năm một lần vào ngày mùng một Tết. Như trước đã nói Hòa Thượng nghiêm tu pháp môn Thiền - Tịnh - Mật của Trúc Lâm Thiền phái và công phu ròng rã suốt một đời …
Theo lời Hòa Thượng Thích thiện Tánh (Đại tòng lâm) : “Hòa Thượng ở trong phương trượng phía sau chùa nhưng biết rõ được khách đến tìm đang đứng trước cổng chùa, dù vị khách ấy chưa từng lên tiếng gọi hay gõ cửa. Hôm đó đang hầu Thầy (HT.Từ Quang), chợt Thầy kêu ra mở cửa, có khách. Tôi ngạc nhiên vì không nghe tiếng gọi hay gõ cửa mà bỗng dưng Thầy biểu ra mở cửa, nhưng khi tôi ra mở thì quả thật có vị khách vừa dừng xe trước cổng, mãi lo sắp xếp chút phẩm vật cúng dường nên chưa kịp gõ cửa, vậy và Hòa Thượng đã biết”.
Ni sư TN Diệu Huệ có lần kể : Vào một buổi trưa nọ có một anh phu xích lô đem hoa trái đến chùa lễ Phật đặng xin cầu an cho mẹ vượt qua khỏi cơn bịnh đã đến thời kỳ nặng, như mọi khi, tôi (Diệu Huệ), đem tờ giấy ghi tên tuổi người mẹ vào trình Thầy chú nguyện, không ngờ chưa nghe hết câu và cũng chưa xem qua giấy Thầy đã dạy tôi : “Con ra bảo người đó về nhà ngay để còn gặp mẹ kẻo không kịp” và Thầy nói nhỏ “Mẹ anh ta ngày giờ đã tới, chắc không qua khỏi trong ngày”.
Tôi liền trở lên chánh điện thấy anh vừa lễ Phật xong còn đứng đó, tôi nói anh nên về ngay vì chắc mẹ của anh đang mong anh lắm, Thầy đang chú nguyện cho mẹ anh rồi.
Khoảng chừng một tháng sau tôi thấy anh đạp xích lô trở lại chùa, cũng với một bó hoa và trái trên tay, anh nói rằng : “Lần trước con có đến chùa xin cầu an cho mẹ, Sư cô nói lẽ vô thường và hối con về, thì con vừa về đến nhà là mẹ con vừa trút hơi thở sau cùng.
Mấy ngày rày con bận lo tang ma chôn cất, hôm nay sắp tới 49 ngày của mẹ, con đến xin cầu siêu cho mẹ con …”.
Điều này chứng tỏ Hòa  Thượng là bậc chân tu đắc pháp, và hiếm thấy trong thời cận đại chứ chưa nói hiện đại.
Sáng mùng một Tết năm Tân Mùi (1991) Hòa  Thượng đăng tòa thuyết pháp với đề tài Tứ Vô Lượng Tâm - Từ bi hỷ xả : khuyên mọi người hãy nới rộng tình thương đến nhau mà đừng đòi hỏi một điều kiện nào của nhau. Và Hòa  Thượng bày tỏ ý nguyện sẽ trở lại cõi đời ô trược này để độ chúng sanh. Lời pháp nhẹ nhàng thanh thoát và tôn dung khả kính của Hòa  Thượng vẫn còn đọng lại trong tâm thức mọi người - Bởi lẽ, đó là lần thuyết pháp sau cùng của Hòa  Thượng.
Quả thật, sự đời vốn vô thường, có hội ngộ ắt có chia ly, có đến phải có đi, thân tứ đại rồi cũng phải trả về cho tứ đại. Đó là định luật chi phối vạn loài hữu tình. Rất đúng như Thiền sư Linh Hựu đã cảnh tỉnh hậu lai về chiếc thân giả hợp này.
“Ví sương lộ vừa sa đây đó
 Mãnh hình hài thoạt có thoạt không
Kìa như cây đứng bờ sông
Nọ dây vành giếng nào trông lâu dài”.
Cảm biết được việc “đến đi” của mình, ngày 20-2 âm lịch năm Tân Mùi (1991), Hòa Thượng cho gọi các đệ tử thân tín đến dặn dò rằng : “Nếu thầy có tịch thì tổ chức lễ tang thật đơn giản rồi đem thiêu”. Nhưng có ai ngờ đó là lời di huấn sau cùng của Hòa Thượng vì Hòa Thượng còn rất khỏe và minh mẫn như thường. Thế mới hay :
“Kiếp người ngọn cỏ sương sa,
Một trờ hư ảo, trăng tà bến lau”.
Sau đó một tuần, vào 26/02 âm lịch. Hòa  Thượng cảm thấy bất an trong thân sau khi tiếp phái đoàn các Đệ tử ở miền Tây lên vấn an sức khỏe. Nhưng sáng hôm sau tức 27/02 âm lịch (nhằm 12/04/1991) Hòa Thượng khỏe lại bình thường và nói năng như lúc không bệnh. Sau khi độ ngọ, 12h00 Hòa Thượng vào phương trượng nghỉ trưa, như thường lệ, đến 14g00 là Hòa Thượng lắc linh gọi thị giả đem nước vào rửa mặt. Quá 14h00, thị giả đẩy cửa bước vào thì thấy Hòa  Thượng đã thâu thần thị tịch, nét mặt lại tươi hồng hơn lúc còn sống, và trên môi còn đọng một nụ cười hoan hỷ, tự tại để lại bao niềm kính tiếc vô biên cho môn đồ từ chúng trong Tông môn nói riêng và Phật giáo đồ Việt Nam nói chung. Sau khi làm lễ trà tỳ. Đồ chúng lập tháp bia tưởng niệm trước sân Thiền Viện Chơn Đức (Bà Chiểu).


Tháp bia tưởng niệm Hòa  Thượng Từ Quang ở  Chơn Đức TV (Bà Chiểu)

Trong tập “Lưu niệm trên đường Đạo”
Ni sư  TN Diệu Huệ viết về Hòa  Thượng :
“… Trước ngày Thầy tịch khoảng một tháng, tôi được linh tính báo điềm 2, 3 lần trong chiêm bao, tôi cũng hiểu đó là những ảnh chiếu của  tâm thức, thế giới thuộc về tâm vi tế luôn diễn dịch, cạn sâu, nhiều thứ lớp không thể dùng lời để nói, vì lời nói phút trước phút sau, lập lại dễ trở thành sự hiểu lầm, điều đó có lẽ chỉ đúng với thước đo của riêng tôi và trong khoảnh khắc đó.
Dầu Thầy tôi đã từng giảng dạy và tôi cũng vẫn biết : Vô thường là thường thì làm gì có sự biệt ly, pháp tánh vốn như thì nào có sanh có tử, nhưng sao lòng tôi vẫn cứ rưng rưng …
Thật vậy, cho dù tôi có hiểu vẫn còn chỉ là trên lý thuyết, thực tế tôi chưa thể nghiệm được điều này, tôi vẫn còn trong cảnh giới đối đãi của nhị nguyên, cái thấy chưa trùm khắp được như Thầy cho nên vạn pháp mãi không ngừng luân chuyển xoay vần trong mắt tôi, tôi vẫn thấy trăng đã tròn rồi lại khuyết, hoa sẽ nở để rồi tàn và rồi, Thầy có đến ắt phải có đi …
Thôi thì cứ để cho mọi việc đến và đi theo lẽ tự nhiên, tôi vẫn âm thầm quan sát chiêm nghiệm tự thân hoặc thong dong trong thế giới tâm không ngăn ngại, được ảnh chiếu lung linh dưới mọi góc cạnh trong tâm thức mà chưa dám mơ tưởng được đến chỗ cùng tột viên mãn là Vạn-Vật-Đồng-Nhất-Thể mà Thầy tôi đã đôi lần nhắc tới.
Từ khi Thầy viên tịch, mỗi khi nhìn lại thân phận mình, là nhớ những lời di huấn, tôi ẩn dật lo tu, hình ảnh Thầy luôn rạng rỡ với nụ cưới khoan dung hoan hỷ, kết hợp những năm tháng được Thầy truyền trao đạo học là một ân đức hiếm khi có được trong đời đã giúp cho tôi có đủ niềm tin để vượt qua tất cả những chông gai chướng ngại trên đường đạo …”.
(Những lưu niệm trên đường đạo)

 

Than ôi !
Mây trắng phủ đầy trời Bát Nhã,
Hoa ưu Đàm rơi rụng cả lối về.
Mới hôm nào,
Thầy trò còn tạng mặt
Lý kinh nghĩa luật, tiếng pháp tỏ rõ ngọn ngành,
Chỉ lối mở đường, đưa chúng con về Bảo sở.
Có ngờ đâu :
Giữa chốn rừng chiên, sư thinh dứt bặt
Bên sườn Thiếu Thất, đèn thiền xao gió
Vân Thê ngói đổ, trăng giới lờ mây
Lối cũ Đình Khôi, lá vàng xơ xác
Chơn Đức còn đây với tháng ngày
Mà bóng Ân Sư giờ biền biệt.
Lời từ biệt khó mong ngày tái ngộ
Chuông Lôi Âm giục giã khách vào Thiền
Trụ Ta Bà, xuân thu trăm lẻ bốn
Cộng chúng tu học, 74 mùa an cư.
Nơi đây
Tấm áo Cà Sa sương thấm lạnh,
Ngoài kia,
Đèn thiền leo lét, gió đìu hiu.
Ô hô !
Vân tán, tuyết tan
Hoa tàn, nguyệt khuyết
Ta La rừng xưa còn là nơi diệt độ,
Chơn Đức giờ đây buồn tiễn gót Thầy đi.

Thôi thì,
Quảy dép về Tây chốn nghỉ ngơi
Hạc vàng cất cánh ngắm phương trời
Huyễn thân gửi lại nơi trần thế
Giả biệt Tôn sư luống ngậm ngùi.
Thế mới hay,
Cực Lạc - Ta Bà muôn trùng non nước
Nghìn thu một bước vĩnh biệt Đại sư. 


   
 1. Đây là tờ Chánh Pháp Nhãn Tạng mà Hòa Thượng được Tổ Từ Nhẫn - Như Đắc truyền pháp vào ngày 18-08 năm Canh Dần (tức 29/09/1950), lược từ đời Đạo Mân - Mộc Trần trở về sau, như sau :




Đời
31 : Mộc Trần - Đạo Mân
32 : Khoáng Viên - Bổn Quả
33 : Thọ Tông - Nguyên Thiều
34 : Minh Ân - Thành Đẳng
35 : Linh Nhạc - Phật Ý
36 : Viên Quang    - Tổ Tông
37 : Hải Tịnh - Tiên Giác
38 : Chơn Hương   - Minh Phương
39 : Từ Nhẫn - Như Đắc
40 : Từ Quang - Hồng Liễu
Như vậy, với dòng truyền thừa này thì Hòa Thượng được truyền theo bài kệ của Tổ Đạo Mân - Mộc Trần, tức thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời 40.
Và qua chánh pháp nhãn tạng này. Chúng ta được biết thêm ngài Thành Đẳng. Minh Lượng còn có pháp hiệu là Minh Ân.
2. Còn tờ Chánh pháp Nhãn Tạng dưới đây là Hòa Thượng được Tổ Đạt Phòng - Hoằng Nghĩa truyền pháp vào ngày rằm tháng 7 năm Mậu Tuất (Nhằm 29/08/1958). Tóm lược từ đời ngài Đạo Mân - Mộc Trần trở về sau, như sau :



Đời
31 : Mộc Trần - Đạo Mân
32 : Khoáng Viên - Bổn Quả
33 : Siêu Bạch - Hoán Bích
34 : Minh Vật - Nhứt Tai
35 : Thiệt Thoại     - Tánh Tường
36 : Tế Giác - Quảng Châu
37 : Liễu Phương   - Chơn Hương
37 : Liễu Khiêm     - Hoằng Ân
38 : Đạt Phòng - Hoằng Nghĩa
38 : Đạt Thanh - Hoằng Thông
39 : Ngộ Minh - Từ Quang


Chánh pháp nhãn tạng do Tổ Hoằng Nghĩa 
truyền ngày rằm tháng 7 năm Mậu Tuất (29 - 8 - 58)



Như vậy, với dòng truyền thừa này, Hòa Thượng được truyền theo bài kệ của Tổ Vạn Phong. Thời Úy, tức thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 39.
Vậy là Hòa Thượng Từ Quang được truyền thừa bởi 2 dòng kệ với 2 đời khác nhau.
- Dòng kệ Lâm Tế Chánh Tông thì thuộc đời thứ 39 : Ngộ Minh - Từ Quang.
- Dòng kệ Lâm Tế gia Phổ thì thuộc đời thứ 40 : Hồng Liễu - Từ Quang.
Tuy nhiên, ở bàn tổ của Chơn Đức có thờ long vị của ngài Hoằng Nghĩa, trong đó ghi : Từ lâm Tế Chánh Tông tam thập cửu thế Giác Viên thượng Hoằng hạ Nghĩa húy Như Phòng Từ Đạo Hòa thượng tổ sư giác linh mạo tọa. Từ long vị này, chúng ta biết Hòa Thượng Hoằng Nghĩa thuộc dòng Lâm Tế [gia phổ thì đúng hơn] đời thứ 39 húy Như Phòng hiệu Từ Đạo. Vậy là Hòa Thượng Hoằng Nghĩa cũng được truyền theo 2 dòng kệ của Lâm Tế Chánh Tông và Lâm Tế Gia Phổ với 2 đời khác nhau :
- Đạt Phòng - Hoằng Nghĩa : đời 38 - LTCT.
- Như Phòng - Hoằng Nghĩa : đời 39 - LTGP.
Bên cạnh long vị của Tổ Hoằng Nghĩa là long vị của Hòa Thượng Từ Quang, trong đó ghi rõ : Từ Lâm Tế Chánh Tông tứ thập thế Chơn Đức Thiền Viện thượng Từ hạ Quang húy Hồng Liễu hiệu Huệ Đức Hòa Thượng Thiền sư giác linh mạo tọa.
Từ long vị này, chúng ta biết Hòa Thượng Từ Quang còn có hiệu là Huệ Đức.
Qua tờ chánh pháp nhãn tạng thứ 2 này, chúng ta được biết ngài Minh Khiêm - Hoằng Ân cũng được truyền theo dòng kệ Lâm Tế Chánh Tông với hiệu là Liễu Khiêm Hoằng Ân. Tương tự, ngài Minh Phương - Chơn Hương cũng được truyền theo dòng kệ Lâm Tế Chánh Tông với pháp hiệu là Liễu Phương - Chơn Hương.




Cuộc đời hoằng hóa của Hòa Thượng suốt một thế kỷ, độ đến 30.000 Phật tử tại gia trong và ngoài nước, mở nhiều giới đàn tuyển người làm Phật. Vậy mà, Hòa Thượng độ đệ tử xuất gia chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Thật lạ !
Thông thường, người ta quan niệm tiếp tăng độ chúng nhiều chừng nào tốt chừng nấy; nhưng với Hòa Thượng thì ngược lại. Hòa Thượng cho rằng : xuất gia học đạo thì dễ, nhưng giải thoát khỏi oan khiên túc trái thì được mấy ai, nên thà độ ít mà thực học thực tu còn hơn tham độ đệ tử cho đông mà chẳng ích lợi gì cho đạo pháp cho chúng sanh. Đó chính là cái nhìn sâu sắc và thẩm thấu mọi lẽ của bậc tu hành đắc pháp vậy. Trong tập “Lưu niệm trên đường đạo” Ni sư TN Diệu Huệ có viết :
“Một buổi sáng Thầy gọi tôi lên dạy” :
“Sáng nay Thầy dặn Thầy Thiện Tánh đến đây có việc, con đến mở tủ áo Thầy ở ngăn thứ 2, lấy tấm y vàng viền kim tuyến của Thầy (Thầy tôi nói tấm y này của Thầy Tổ, Thầy đã mang theo mình trong suốt những năm tháng Thầy đi đó đây hoằng hóa khắp mọi nơi, Thầy đã đắp chiếc y này để chứng minh các buổi lễ, khai mở đàn giới và thăng tòa thuyết pháp) nay con lấy ra sẵn để chút nữa Thầy cho Thiện Tánh đắp lên để chụp một tấm hình “Thầy Thiện Tánh với tư thế tọa thiền trên thạch tòa nơi chánh điện Chơn Đức Thiền Viện” ngộ nhỡ mai này Thầy tịch Thầy Thiện Tánh còn tấm hình làm kỷ niệm …”
Từ hồi tôi đến ở chùa 4, 5 năm, vị trí Thạch tòa này chỉ dành riêng Thầy tôi là Viện chủ ngự để chứng minh các buổi lễ, ngoài ra từ vị trưởng tử của Thầy (là Hòa Thượng Chánh Tịnh) trở xuống cũng chưa ai được chủ tọa nơi pháp tòa này, hôm đó tôi nghĩ ý-chỉ-truyền-thừa của Thầy tôi đã nhắm dành cho Thầy Thiện Tánh, Thầy là một người có đức độ vượt trội, vừa khiêm cung và chính trực, chẳng màng đến lợi danh vật chất, chẳng bao giờ tranh chấp với ai, đời sống của Thầy luôn giản đơn và đầy đạo vị …
… Và sau đó Thầy Thiện Tánh đã lặng lẽ xa rời nơi tranh chấp đang dầu sôi lửa bỏng này để ra ẩn tu ngoài Đại Tòng Lâm (ngày nay là Viện chuyên tu Đại Tòng Lâm).



Có lẽ do ân đức sâu dầy của các vị Thầy tổ tương tục kế truyền qua nhiều đời trước ngầm gia hộ nên từ nơi đây đã nứt mộng nảy chồi, những đệ tử do Thầy Thiện Tánh trưởng dưỡng đạo tâm đều xuất sắc làm nên đạo nghiệp với tinh thần Từ bi và trí tuệ, hoằng truyền chánh pháp trên con đường vị tha không ngừng nghỉ…
(Những Lưu niệm trên đường đạo)
D.Huệ

Đệ tử của Hòa Thượng gồm có :
1.      Hòa Thượng Thích Chánh - Tịnh húy Nhựt Tâm hiệu Huệ giải, kế thế trụ trì Chơn Đức thiền viện ở Bà Chiểu.
2.      Hòa Thượng Thích Thanh-Tâm húy Nhựt Trí hiệu Huệ-Viên, trụ trì Chơn Đức Thiền Viện ở Hóc Môn.
3.      Hòa Thượng Thích Thanh-Phước húy Nhựt Trí hiệu Huệ Định Giảng sư Thiền viện Quan Âm Cát Lợi.
4.      Hòa Thượng Thích Thiện-Tánh húy Nhựt-Đức hiệu Huệ-Viên trụ trì Viện Chuyên Tu Đại Tòng Lâm ở Bà Rịa.
5.      Hòa Thượng Thích Nguyên-Tịnh húy Nhựt-Định hiệu Huệ-Minh, tịnh Thất Đại Hàng, Nhật trang.
6.      Hòa Thượng Thích Thiên-Thọ, húy Nhựt Phước hiệu Huệ-Tịnh, trụ trì chùa Giác Hạnh Vũng Tàu.
7.      Hòa Thượng Thích Thiện-Tâm húy Nhựt Hạnh hiệu Huệ Thọ, trụ trì chùa Phước Bửu Vũng Tàu.
8.      Hòa Thượng Thích Từ-Thông húy Nhựt Tâm hiệu Hậu Hải trụ trì chùa Quan Âm ở Vũng Tàu.
9.      Đại đức Thích Thiện-Đạo húy Nhựt Thành, hiệu Huệ Đạt, trụ trì chùa Từ-Đức ở Hóc Môn.
1.      Ni sư Thích Nữ Diệu-Chánh húy Nhựt Tịnh hiệu Huệ Phước Tịnh Thất TP.HCM.
2.       Ni sư Thích Nữ Diệu-Chơn húy Nhựt-Thịnh hiệu Huệ Hạnh, Tịnh Thất TP.HCM.
3.      Ni sư Thích Nữ Diệu-Huệ húy Nhựt-Tâm hiệu Thanh Tịnh (Tịnh Đức) Tịnh thất TP.HCM.
4.      Ni sư Thích nữ Diệu-Cao húy Nhuật-Niệm hiệu Huệ Tâm Tịnh thất TP.HCM.
5.      Ni sư Thích nữ Diệu-Thiện húy Nhựt-Thạnh hiệu Huệ Đức, trụ trì chùa Ân Phước Khánh Hòa.



Sau khi về nước, năm 1940 Hòa Thượng bắt đầu trước tác và soạn dịch kinh điển, xuất bản nhiều kinh - luật - luận có giá trị và ấn tống nhiều tác phẩm kinh sách.
I. ĐÃ XUẤT BẢN
A. KINH :
1.          A di Đà kinh (diễn âm, diễn nghĩa, yếu giải sự lý).
2.          Hồng Danh Bửu Sám.
3.          Vu Lan Bồn kinh.
4.          Diệu Pháp Liên Hoa kinh Phổ Môn phẩm.
5.          Kim Cang kinh.
6.          Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm kinh.
7.          Nhị thời công phu.
8.          Thủ Lăng Nghiêm kinh (toàn bộ 10 quyển).
9.          Viên Giác kinh.
10.      Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức kinh.
11.      Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh.
12.      Quán Di Lặc thượng sanh Đâu Suất thiên kinh (quyển thượng).
13.      Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật kinh (quyển hạ).
14.      Qui Nguyên Trực chỉ kinh.
15.      Bát Đại Nhơn Giác kinh.
16.      Tứ Thập Nhị Chương kinh.
17.      Phật Di Giáo kinh.
18.      Pháp Bửu Đàn kinh.
19.      Chư Phật Tâm Đà La Ni (dịch âm, bổ thích sự linh ứng của mật chú).



B. LUẬT :
1.          Qui Giới Yếu tập (toàn bộ 3 quyển).
2.          Tam Quy Ngũ Giới thuyết.
3.          Pháp thọ tài Bát Quan Trai giới.
4.          Truyền Thọ Tam đàn Hoằng Giới Pháp Nghi.
5.          Bồ Tát Giới - Tam Tụ Tịnh giới.
6.          Tỳ Kheo Thọ Giới Lục.
7.          Tỳ Kheo Ni Thọ Giới Lục.
8.          Trường Hàng Luật (Tỳ Ni, Sa Di, Oai Nghi, Cảnh Sách).
C. LUẬN :
1.          Bát Thức Qui Củ tụng (chú giải).
2.          Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận (chú giải).
3.          Đại Thừa Khởi Tín Luận (chú giải).
4.          Thinh Văn Thừa (Pháp Tứ Diệu Đế).
5.          Duyên Giác Thừa (Pháp Thập Nhị Nhơn Duyên).
6.          Bồ Tát Thừa (Pháp Lục Độ - Tứ Nhiếp).
7.          Thiền Tông Lược Thuyết.
8.          Pháp Môn Thiền Định Yếu Giải.
9.          Tịnh Độ Tông Lược Thuyết.
10.      Pháp Môn Niệm Phật A Di Đà Yếu Giải.
11.      Mật Tông Lược Thuyết.
12.      Đạo Phật Khế Hợp Nhân Sinh
13.      Đặc Điểm Vô Sanh của Đạo Phật.
14.      Phật Học Thiển Thuyết.
15.      Tam Giới Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức.
16.      Cao tăng Lược Truyện (quyển 1).
17.      Tỉnh Tâm Thi (gồm có 216 bài thơ đạo đức).

II. ĐÃ ẤN TỐNG
1.           Nghi thức Tu Phật Yếu Lược quyển 1 (có Tam Bảo kinh).
2.           Nghi Thức Tu Phật Yếu Lược, quyển 2 (hộ niệm vong giả).
3.           Tam Thiên Phật Sám.
4.           Từ Bi Thủy Sám.
5.           Mật Tông - Trì Chú Pháp Nghi.
6.           Hồi Quang Tu Tỉnh.
7.           Phật Pháp Tu Tâm.
8.           Đạo Hiếu Nhà Phật.
9.           Thuyết Nhân Quả Luân Hồi.
10.       Giới Định Huệ.
11.       Tính Hạnh Nguyện.
12.       Giới Đức Trường Trai Tuyệt Dục.
13.       Chơn Xuất Gia Là Đại Hạnh Giải Thoát.
14.       Tượng Phật A Di Đà.
Tượng Phật Thích Ca.
Tượng Đức Quan Thế Âm.
Tượng Đức Đại Thế Chí.
Đặc biệt, Hòa Thượng có trước tác một bài trường thi “Tỉnh Tâm Tu Phật” dài 108 câu rất thống thiết, vào mùa hạ năm Nhâm Ngọ (1942). Đã là người học Phật thì không thể không biết qua và thực hành theo.
Tỉnh Tâm Tu Phật
Thế sự vô thường, nên sớm tỉnh !
Danh chẳng màng, lợi cũng chẳng ham,
Vinh hoa như bọt nước bổng trầm,
Phú quí ví vầng mây tan hiệp,
Sang cho mấy vẫn trong một kiếp,
Giàu cho đến đâu cũng chỉ nhất thời,
Nghiệp phàm phu sanh tử luân hồi
Thân tứ đại chứa đầy uế trược
Phần bịnh oạn, già nua thúc phược.
Nào ăn, ở, mặc, lại xã giao,
Nào ác duyên, nghịch cảnh lao đao
Ái ly, oán hội, cầu bất đắc,
Đa mang năm uẩn hằng sâu sắc,
Các oan gia, trái chủ triền miên
Còn thiên tai, ách nạn vô biên
Tam giới bất an như nhà hỏa
Nước mắt chúng sanh tràn biển cả
Thọ trần duyên ắt phải trần ai
Sống ngày nay chưa biết ngày mai,
Đành luống những ưu tư phiền não,
Đã tạo nghiệp đương nhiên thọ báo,
Kiếp ta bà khó được bền lâu,
Mới mày xanh, kế chịu bạc đầu,
Rồi gặp phải nấm mồ ác nghiệt
Cuộc đời có sanh thì có diệt
Há dễ cầu trường cửu vinh quang
Như phù dung sớm nở chiều tàn
Sự còn mất, vô phương ức đạo
Dầu có tài uyên thâm hoạt bát
Dầu có chiếm địa vị đế vương
Tất cả sĩ nông với công thương
Gặp tử thần, thảy đều thúc thủ
Mùi tục lụy, thế nhân nếm đủ
Miếng đỉnh chung hàm súc chua cay
Thấm thoát ba vạn sáu ngàn ngày
Trải qua in như tuồng ảo mộng
Vật chất xa hoa là hư vọng
Pháp hữu vi thành trụ hoại không
Muôn việc đời nương ít tấc hơi
Hơi vừa dứt việc đời cũng dứt
Nào sự nghiệp, oai quyền, thế lực
Nào gia cư, tài sản, ruộng vườn
Nhắm mắt rồi, nắm lấy tay không
Thế mới rõ : đời là biển khổ !
Nguyên nhân vì vô minh cám dỗ
Sai khiến người tham dục tối tăm,
Tạo hành vi mê muội sai lầm
Khởi “huân” rồi “tập” lần tới “nhiễm”
Tứ đế huyền vi cần thật nghiệm
Nhân tập trừ, quả khổ tiêu tan,
Khổ tiêu tan, thể hiện Niết Bàn
Thường - Lạc - Ngã - Tịnh an nhiên hưởng
Trước khi vào Niết Bàn vô thượng
Có đạo Bát Chánh giúp tư lương
Như : Thấy biết, suy nghĩ, nói năng
Nghiệp, sanh hoạt, chuyên cần, tưởng niệm
Thêm thiền định : tám môn mầu nhiệm
Trừ vọng tà, mê tín, dị đoan,
Hướng dẫn người chơn chánh hoàn toàn
Diệt tham sân si, nghi mạn chấp
Ở đời có trí ngu, cao thấp,
Cơ tuần hoàn cảm ứng phân minh
Lành hoặc dữ thọ báo công bình
Phước hay tội do tâm tạo tác
Làm người biết đề cao cảnh giác
Tuân hành luật nhân quả thiên nhiên
Bảo toàn nền đạo đức chơn truyền,
Chỉ sợ nhân, chớ không sợ quả,
Trường đời vốn là nơi vay trả,
Vay rồi trả,  trả đủ lại vay.
Mãng tranh đua danh lợi sắc tài,
Lẫn quẩn ở trong lòng tội lỗi,
Nên tụ tỉnh, hồi quang sám hối,
Dùng Bát Nhã quán sát bên trong ,
Đem ánh sáng soi xét cõi lòng.
Tùng Giác Đạo toàn chơn thiện mỹ,
Giác đạo gốc ngụ nơi chơn lý,
Chơn lý phát huy ở tự tâm,
Tỏ tâm thì ngộ lý thâm trầm,
Đạt Diệu pháp, thành công đắc quả.
Ai có sẵn căn duyên cao cả,
Đại hùng, đại lực, đại từ bi.
Phát thiện nguyện thọ phép quy y,
Lòng kính cẩn hướng về Tam Bửu.
Cầu Bồ Đề an vui vĩnh cửu,
Ngưỡng nhờ Phật, Pháp, thanh tịnh Tăng,
Đủ vô lượng phương tiện, khả năng,
Khai thị ngộ nhập tri kiến Phật.
Tu thuần túy Đan Tâm chơn thật,
Tu dõng mãnh cải tiến hành vi,
Tu giới luật thanh tịnh nghiêm trì,
Tu hiếu thảo khiêm cung trung trực.
Tu hết lòng thủy chung như nhứt,
Tu oai nghi tế hạnh đoan trang,
Tu công phu nhựt tụng vẹn toàn,
Tu chuyển Bát Thức ra Tứ Trí.
Tu đại đồng vị tha bố thí,
Tu liêm khiết giúp ích nhân sanh,
Tu chí thành y giáo phụng hành,
Tu đưc độ quang minh chánh đại.
Tu giải thoát siêu nhiên tự tại,
Tu cả phước lẫn huệ cao xa.
Tu tự giác kiêm nhiệm giác tha
Nguồn chơn như vuông tròn Giác Hạnh
Nhứt nguyện tu minh tâm kiến tánh
Tọa kim liên thường trụ trọn lành
Phổ nguyện pháp giới chúng sanh
Tỉnh tâm tu Phật, viên thành Như Lai.
Chúng ta thấy, quả là một công trình soạn dịch đồ sộ với gần 60 tác phẩm, không những thế, Hòa Thượng còn có một biệt tài : Hội họa. Hiện nay, tại Chơn Đức Thiện Viện còn lưu giữ hai bức tranh do chính tay Hòa Thượng vẽ rất đẹp, tính mỹ thuật cao.
Trong tập “TỪ QUANG THI VIỆN” (1904 - 1908) của Hòa Thượng, ngài đã để lại những bài Thơ đạo tựa đề :
-         Lánh dữ
-         Làm lành
-         Học Phật
-         Nghiệp báo vay trả
-         Luân Hồi
-         Tu tâm
-         Vấn cơ ma giáo
-         Cảm tác
-         Tự giác
-         Một đêm trăng tỏ
-         Giai cảnh
-         Tịnh cảnh
-         Vào cửa từ bi
-         Tiếng chuông chùa
-         Thế phát
-         Xuất gia
-         Bồ đề tự tánh
-         An phận lạc đạo
-         Sonet à lotus (thơ tiếng Pháp)
-         Phụng điếu Đức Bổn Sư T.Hoằng Nghĩa
-          Hoàn nguyên
-          Ý thức cuộc đời
-          Bát Nhã thuyền đưa qua bể khổ
-          Khéo lái thuyền vượt khổ hải
-          Bội trần hiệp giác
-          Nghiệp phàm phu
-          Khuyến thiện
-          Khuyến tu tịnh độ
-          Niệm Phật
-          Thọ trì kinh chú Thủ Lăng Nghiêm
-          Chúc Khánh
-          Thầy khuyên trò
-          Hóa Kỷ
-          Tu là Cội Phước
-          Khai Trì Bất Đãi Nguyệt Trì Thành Nguyệt Tự Lai.
-          Tứ Vô Lượng Tâm Từ Bi Hỷ Xả
-          Thoát Tục - Siêu phàm
-          Tâm hồn giải thoát
-          Đối liên chúc tụng
-          Có Không
-          Hồng trần vui khổ
Ngoài ra còn những bài pháp kệ của ngài Từ - Quang truyền cho một vài đệ tử : (Xuất gia và tại gia)

PHÁP - KỆ
NHỰT luân Huệ Tịnh ngộ tâm nhiên
ĐỨC hạnh quang minh trực chỉ Thiền
THIỆN nguyện thủy chung tùng chánh giáo
TU hành giải thoát, trí căn viên.

PHÁP - KỆ
NHỰT đắc từ tâm phước trí viên
ĐỊNH thành Huệ Mạng, ngộ minh thiền
CHÁNH tu giải thoát, đạt không tánh
NGUYỆN kiến Như Lai, đắc pháp-duyên.

PHÁP - KỆ
DIỆU đạo khai qui chánh giác nguyên
HUỆ tu giải thoát đức Thiêng Liêng
NHỰT minh năng chiếu hư không tạng
TÂM nguyện như như Thanh Tịnh viên.

PHÁP - KỆ của Bổn Sư
(Hòa Thượng Thiền-Sư THÍCH-TỪ-QUANG)
29-12 Đinh Mão

HAI NGÔI THIỀN VIỆN ĐỒNG MANG TÊN CHƠN ĐỨC

CHƯƠNG I : CHƠN ĐỨC TV Ở BÀ CHIỂU

Như đã trình bày ở trên, ngôi Thiền Viên này (do một gia đình Phật tử đạo tâm hỷ cúng) PT cùng xây cất (Cô Út, con bà Hai Chanh Cha TT. Giác Quang,
F   , Q. Tân Bình đã viên tịch) của Hòa Thượng tọa lạc ở đại lộ Nguyễn Đình Khôi nay là đường Phan Đăng Lưu, nên khuôn viên rất hẹp, nhìn vào khó nhận ra là một ngôi Thiền Viện vì không có kiểu dáng như bao ngôi tự viện khác.
Sau khi về nước (1935), Hòa Thượng chỉ chỉnh trang sơ để có chổ tạm mà hoằng hóa. Đến 1950, Hòa Thượng trùng tu lại chánh điện và an trí các tượng Phật rất đơn giản nhưg không kém phần tôn nghiêm. Từ ngoài nhìn vào, tầng trên hết có tôn trí tượng Phật A Di Đà lớn bằng người thật; Tầng thứ 2 gồm có 3 tượng, chính giữa là Phật Thích Ca, bên phải là Phật Dược Sư và bên trái là Phật Di Lặc biểu trưng cho tam Thế Phật; Tầng dưới cùng là an trí tượng Chuẩn Đề Bồ Tát. Đối diện với bệ Phật là tôn tượng Hộ Pháp được đặt trên một chiếc bàn xưa bằng gỗ mun cẩn ốc xà cừ rất sắc xảo và mỹ thuật.


Chánh điện Thiền Viện Chơn Đức ở Bà Chiểu
Hai bên vách chánh điện có một câu đối chữ rất đẹp, và vế đối rất hay kèm theo lối chơi chữ rất thanh của Hồng Liên Đạo Nhân tặng :
- CHƠN truyền Phật giáo diễn tam thừa sự lý viên dung HÒA nhơn sanh cộng tác quán THIỀN,
- ĐỨC kế Tổ tông tuyên bát chánh phước huệ song toàn THƯỢNG xã hội đồng đăng đạo VIỆN.
Bên phải chánh điện là bệ thờ Tổ, trên đó có tôn trí chơn dung và long vị của Hòa Thượng Hoằng Nghĩa và Hòa Thượng Từ Quang.


Chơn dung Hòa Thượng THÍCH TỪ QUANG
Thờ ở bàn Tổ của Chơn Đức Thiền Viện
- Năm 1954, Hòa Thượng xây dựng một Giảng đường bên vách trái của chánh điện để làm nơi giảng dạy cho Phật tử … Từ đây về sau, không có công trình xây dựng nào khác.
Sau khi Hòa Thượng viên tịch (1991), Hòa Thượng Thích Chánh Tịnh là trưởng tử kế thế trụ trì cho đến ngày 08 tháng 02 năm đinh Sửu (16/03/1997) thì Viên tịch. Và kế vị trụ trì hiện nay là Hòa Thượng Thích Thiện Tánh.
Như vậy, ngôi Thiền viện này đã trải qua 60 năm xây dựng với ba đời trụ trì theo biểu đồ sau :

Các thế hệ trụ trìNiên đại1. HT. Từ Quang - Hồng Liễu (1888 - 1991)1935 - 19912. HT. Chánh Tịnh - Nhựt Tâm (1912 - 1997)1991 - 19973. HT. thiện Tánh - Nhựt Đức (1925 -       )1997 - nay

CHƯƠNG II : CHƠN ĐỨC TV Ở HÓC MÔN

Vì khuôn viên Chơn Đức Thiền viện ở Bà Chiểu chật hẹp lại tọa lạc giữa phố thị ồn ào phức tạp, nên Hòa Thượng muốn kiến tạo một khu chuyên tu rộng thoáng và yên tĩnh khác để làm cơ sở tinh thần cho Chơn Đức.
22/12/1965, Hòa Thượng nhận một khoảnh đất khoảng 2 hecta ở xã Tân Hiệp huyện Hóc Môn lập ra ngôi Thiền viện thứ 2, cũng mang tên Chơn Đức. Khởi công xây dựng vào 1967 mãi cho đến 1973 mới hoàn tất.
Từ cổng tam quan bước vào sẽ gặp ngay tượng Quan Âm lộ thiên, sau Quan Âm lộ thiên là đài Di Lặc. Qua khỏi đài Di Lặc là một khoảng sân rộng thoáng được lót bằng gạch tàu đỏ thắm dẫn vào chánh điện bằng hai hàng sứ trắng lâu năm trông rất cổ kính. Giữa sân là cột phướng vươn cao khỏi ngọn cây, sau cột phướng chừng 5m là hòn giả sơn do Bác sĩ Nguyễn Văn Hổ chế tác rất nghệ thuật.
Từ đài Di Lặc, nhìn sang bên phải là đài. Tam Thánh Tây Phương đồ sộ án ngữ trước giảng đường Thiện Đạo (mới xây dựng), về phía trái của đài Di Lặc là cảnh Thành Đạo, Nhập Niết Bàn, Quan Âm Phật Đài và Bảo tháp Xá Lợi. Tất cả được xây dựng dựa vào cảnh thiên nhiên rất hài hòa đạo thành một quần thể tượng đài rất trang nghiêm và mỹ thuật.
Tương tự như Chơn đức Thiền Viện ở Bà Chiểu. Chánh điện của ngôi Thiền viện này được tôn trí các tượng Phật rất trang nghiêm với một hàng tượng lớn, nhìn vào từ trái sang phải là năm bức tượng : Địa Tạng, Di Lặc, Thích Ca, Dược Sư và Quan Âm. Chánh điện cao thoáng có đôi câu đối trên hàng cột rất hay, vế đối rất chuẩn :
- CHƠN truyền Giáo lý, ngộ tâm nguyên, vạn pháp giai không, TỪ mẫn HÒA hưng phạm Vũ THIỀN.
- ĐỨC nhuận Chánh tông liễu thánh hải, lục trần hà hữu, QUANG minh THƯỢNG kiến Tòng Lâm VIỆN.


Chơn Đức Thiền Viện ở Hóc Môn
Chánh điện Chơn Đức TV ở Hóc Môn



Ngôi Thiền viện này kiến trúc theo kiểu tiền Phật hậu Tổ. Bàn thờ Tổ có tôn trí bức tượng Sơ Tổ Thiền Tông. Bồ Đề Đạt Ma và chơn dung Hòa Thượng khai Sơn-Thích Từ Quang. Hai bên có một cặp câu đối rất hay và nghĩa lý rất thâm thúy toát lên công đức của Hòa Thượng.
- TỔ chí đại lương đống, Phật gia vĩnh chấn, NAM thiên GIÁO HỘI,
- SƯ tâm kỳ thạch trụ, pháp môn trùng quang, VIỆT địa THIỀN TÔNG.
Từ hậu Tổ, có 2 lối nhỏ dẫn liền xuống phương trượng, giành một khoảng sân trống ngay chính giữa rất thoáng và đẹp.
Kể từ khi khai hoang tạo tự cho đến nay, Thiền Viện vẫn giữ y nguyên trạng của kiến trúc cũ. Nhưng vì chiến tranh và cuộc sống khó khăn chung sau ngày miền Nam giải phóng, nên Thiền Viện đã trải qua 5 đời trụ trì mà vẫn không phát triển thêm.
Từ 1991, Hòa Thượng Thích Thanh Tâm được bổ xứ về trụ trì, thì Chơn Đức Thiền Viện thực sự đã chuyển mình và vươn lên trong làng Phật Giáo Hóc Môn.
Khởi đầu cho công việc chỉnh trang, năm 1993; Hòa Thượng Thanh Tâm cho tu bổ lại chánh điện và nhà Tổ, đồng thời xây dựng thêm hai dãy Tăng Xá để có nơi ngơi nghĩ cho Tăng chúng nội viện.
Bên ngoài khuôn viên trước Thiền viện thì cho xây dựng các cảnh gồm nhiều tượng : tượng Quan Âm Lộ Thiên, đài Di Lặc, cảnh Thành Đạo, cảnh Nhập Niết Bàn và đài Tam Thánh Tây Phương.
1994, xây một Bảo Tháp Xá lợi 7 tầng để thờ Xá Lợi Phật do Tiến sĩ Trần Hoàng Chương cúng.

1996, xây Giảng đường Thiện đạo và nâng phương trượng lên thêm một tầng.
1997, xây Quan âm Phật Đài. Ngoài ra, trong khuôn viên còn có bảo tháp của Hòa Thượng Chánh Tịnh. Ta có biểu đồ các thế hệ trụ trì như sau :

Các thế hệ trụ trì
Niên đại
1. TT. Thích Quảng An
1968 - 1970
2. TT. Thích Quảng Minh
1970 - 1972
3. TT. Thích Quảng Tường
1972 - 1974
4. TT. Thích Quảng Thanh
1974 - 1982
5. ĐĐ. Thích Thiện Thuận
1982 - 1990
6. HT. Thích Thanh Tâm
1990 - nay
PHẦN 5: Tổng kết

Một cuộc đời - một thế kỷ, Hòa Thượng Thích Từ Quang mãi là điểm son nổi bật trên trang sử Cao Tăng Việt Nam thời cận đại và đương đại, nhất là ở những thập niên 40 - 50 khi mà công cuộc Chấn hưng Phật Giáo được khởi xướng chính vào lúc chính sự rối ren của Việt Nam.
Không những thế, Hòa Thượng còn là bậc Long tượng chốn Thiền môn - uyên thâm Phật pháp ; Ngài là một Cao Tăng bác học chẳng màng lợi danh, quyết một lòng ẩn tích mai danh ôn tầm Phật lý, vươn cao ngọn đuốc tuệ giải thoát rạng ngời giữa rừng Thiền của Việt Nam cuối thế kỷ XX, như lời Hòa Thượng Thích Trí Quảng đã giảng trong ngày tang lễ của Hòa Thượng tại Chơn Đức :
“… Hòa Thượng Thích Từ Quang, một bậc chơn tu, đạo hạnh cao tột. Hòa Thượng không giao tiếp bên ngoài mà lo chuyên tinh với Thiền nghiệp. Sống trọn một thế kỷ, tôn danh của Hòa Thượng vang khắp chốn Thiền lâm mà ít người được diện kiến Hòa Thượng. Quả là một danh Tăng hiếm thấy trong thời đạo ngày nay.
… Định luật vô thường - Sanh lão bệnh tử chi phối vạn loại hữu tình. Vậy mà, Hòa Thượng đã an nhiên thị tịch mà không hề có chút bệnh hoạn hay đau yếu gì cả. Bằng chứng là trước khi tịch 2 giờ đồng hồ, Hòa Thượng vẫn còn ăn cơm, uống nước và nói chuyện bình thường. Rõ ràng, chỉ có những cao Tăng đắc pháp mới “đến - đi” một cách vô ngại, và tự tại giữa sống chết như vậy; mà hôm nay, chúng ta thấy rõ ở Hòa Thượng.
… Có một điều làm giới trí thức trong và ngoài Phật Giáo hết lòng kính phục là đức tánh khiêm tốn của Hòa Thượng, đối trước mọi người, Hòa Thượng luôn ôn hòa khiêm cung dù có một kiến thức quảng bác và một học vị cao trong xã hội. Chúng ta thấy, Hòa Thượng Thích Từ Quang quả là một bậc chơn tu đạo cao đức trọng, một học giả lỗi lạc hiếm có …”.
Thiết nghĩ, không thể đem tri kiến cạn cợt mà nhận xét Hòa Thượng, và càng không thể dùng ngôn từ hữu hạn của thế gian mà diễn nói công hạnh của một bậc chơn tu đã đạt đến tầm cỡ “minh Phật tâm tông, hạnh giải tương ưng”. Lại càng không thể dùng sự phân biệt nhiễm ô của phàm tình mà lạm bàn hạnh nguyện của bậc Tổ sư suốt đời gắn liền với sự nghiệp “hoằng dương Phật pháp, lợi lạc hữu tình”.
Để kết thúc tập luận này, xin được ghi lại bài Pháp kệ tán dương công đức của Hòa Thượng trọn đời “Tác Như Lai Sứ, thừa Như Lai sự” :
TỪ giác bổn tâm trực ngộ thiền
QUANG minh tự tánh, huệ hoàn nguyên
HỒNG cơ chuyển pháp tùy duyên hóa
LIỄU đạt chơn như, vĩnh đức truyền.
Tổ Hoằng Nghĩa Như Phòng
Nghĩa là :
TỪ giác bổn tâm, ngộ lý Thiền
QUANG minh tự tánh, tỏ nguồn chơn
HỒNG cơ chuyển pháp, tùy duyên hóa
LIỄU đạt chơn như, đức mãi truyền.